Bartoszewski - con người huyền thoại, kho báu của Ba Lan.

Vla-đi-slav Ba-rờ-tô-sev-xki (Władysław Bartoszewski)– con người huyền thoại, kho báu của Ba Lan.

flickr:7006443171

Bến Việt (17.03.2012) Tin Ba Lan/Trọng Tâm - Chủ Nhật, ngày 19.02.2012, trong Cung điện Lâu Đài Hoàng Gia tại Vác-xô-via (Warszawa )Ba Lan đã diễn ra một buổi tiệc sinh nhật long trọng và hoành tráng. Buổi tiệc đã được Đài Truyền hình quốc gia Ba Lan phát sóng trực tiếp và các kênh truyền hình lớn khác như Polsat, TVN cũng phát theo.Những người dự sinh nhật đó là các vị lãnh đạo cao cấp của chính quyền Ba Lan, đứng đầu là Tổng thống Brô-ni-xlav Kô-mô-rôv-xki và Phu nhân, Thủ tướng Tu-xkơ và Phu nhân, cũng như các Chủ tịch Thượng viện và Hạ viện cùng các đại diện của nền Văn hóa và Khoa học Ba Lan như đạo diễn phim nổi tiếng An-đrây Vai-da (Andrzej Wajda), người đã từng đọat được Oscar, nhà sáng tác nhạc và đạo diễn giàn nhạc lừng danh Ksư-stov Pen-de-re-xki (Krzystof Penderecki). Nhân vật chính của buổi tiệc sinh nhật long trọng trong Cung điện Lâu Đài Hoàng Gia này là Vị Giáo sư Vla-đi-slav Ba-rờ-tô-sev-xki, trong ngày này Ngài tròn 90 tuổi.

Qua màn hình ta thấy một Vị Giáo sư giản dị, mặc dù tuổi đã 90 song rất linh hoạt, dáng hơi còng song rất nhanh nhẹn và minh mẫn, và lời nói của ngài cũng rất đĩnh đạc, rõ ràng, nhiều lúc cũng hóm hỉnh khiến mọi người cười rộ lên.

Ngài là ai mà có buổi tiệc sinh nhật long trọng như thế, không những dân Ba Lan, từ Tổng thống đến người dân bình thường đều kính trọng và khâm phục, mà các lãnh tụ thế giới cũng rất kính trọng ngài, chính Đức Cha Be-ne-dict XVI đã gửi Thiếp chúc mừng sinh nhật ngài, Thủ tướng Cộng hòa Liên bang Đức và Tổng thống Nước Do Thái Israel cũng đã gửi Thiếp chúc mừng ngài.

Dưới đây tôi sẽ cố gắng giới thiệu cho các bạn một số thông tin cần thiết về một tiểu sử dài, phong phú và đầy hấp dẫn mà ngài đã trải qua trong vòng 90 năm.

Tiểu sử thời Thế chiến thứ 2

Ba-rờ-tô-sev-xki sinh ngày 19-02-1922 tại Vác-xô-via, thủ đô Ba Lan. Khi anh thanh niên trẻ chung này kết thúc trung học trong năm 1939 cũng là lúc Đại chiến thế giới thứ hai bùng nổ trên đất nước anh, ngay từ đầu chiến tranh anh đã tham gia vào lực lượng dân sự phòng vệ Vác-xô-via. Trong cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc không cân sức này, mặc dù các chiến sĩ Ba Lan chiến đấu rất dũng cảm, xong Đức quốc xã đã chiếm được toàn bộ đất nước Ba Lan, và các chiến sĩ Ba Lan đã đi vào cuộc chiến tranh du kích, ẩn mình dưới sự ủng hộ của nhân dân một lòng yêu nước.

Anh từng bị bắt ( ngày 19-09-1940 ) và bị tù đày tại Trại tù Auschwitz – trại tù lớn nhất của Đức quốc xã trên thành phố Ô-xvie-cim (Oświęcim) trên Tổ quốc của anh với số tù xăm trên tay là 4427.

Được trả tự do ngày 08-04-1941 nhờ sự can thiệp của Hội Chữ thập đỏ Ba Lan, anh đã nhanh chóng liên lạc và hoạt động cho Mặt trận Hồi sinh Ba Lan – một Tổ chức Công giáo ngầm về giáo dục, xã hội và từ thiện do bà Zô-fia Kô-sak lãnh đạo. Ở đây anh đã từng là Thư ký Ban biên tập Công giáo tờ Tạp chí 'Sự thật' ra hàng tháng và sau đó đảm nhiệm chức vụ Tổng biên tập Tạp chí 'Sự thật Tuổi trẻ' – tạp chí hàng tháng dành cho thanh thiếu niên Đại học và Trung học Ba Lan. Anh tham gia tích cực vào Ủy ban lâm thời trợ giúp người Do Thái 'Zegota' – sau này là Hội đồng trợ giúp người Do Thái 'Zegota' trực thuộc Đại diện Chính phủ tại nhà.

Tháng 08 năm 1942 anh chính thức ra nhập Quân đội quốc ( AK ) - một quân đội hoạt động ngầm mạnh nhất và có tổ chức tốt nhất tại thời điểm này ở Âu châu, ở đây anh làm việc trong Văn phòng Thông tin và Tuyên truyền với bút danh 'Teofil'. Trong thời gian hoạt động tại Quân đội quốc anh đã từng đảm nhiệm chức vụ Phó trưởng phòng Phòng trại giam thuộc Cục An ninh, Sở Nội vụ Đại diện Chính phủ tại nhà, chuyên tổ chức trợ giúp các tù nhân, trong đó có các tù nhân chính trị ở trại Pa-viak – trại này được coi là nhà tù chính trị lớn nhất tại Ba Lan dưới ách thống trị của Đức quốc xã. Tháng 2 năm 1943 anh làm việc với tư cách là thư ký thông tin và kiêm đảm nhiệm Phó trưởng ban Ban Do Thái thuộc Sở Nội vụ Đại diện Chính phủ tại nhà. Anh đã giúp đỡ tích cực cho những người nổi dậy trong getto tại Vác-xô-via vào tháng 4 năm1943.

flickr:7006512377
flickr:7006465061
flickr:7006468039

Ngày 01-08-1944 anh tham gia vào 'Cuộc nổi dậy Vác-xô-via', với thành tích chiến đấu tốt và lòng dũng cảm ngoan cường anh đã được tặng các huy chương như huy chương „Chữ thập dũng cảm”, được thăng chức trung úy ngay tại trận địa. Với số lượng người ít ỏi, vũ khí tồi tàng những người yêu nước Ba Lan này đã cầm cự được với đội quân hùng mạnh của Đức quốc xã hơn hai tháng trời (đến ngày 03-10-1944), lúc đó Hồng quân đỏ Xô viết trên đà chiến thắng đã đứng bên kia bờ sông Vi-sla với hàng vạn binh sĩ cùng các súng ống trang thiết bị quân sự khác đã không thèm giúp sức cho những người nổi dậy này. Sau khi cuộc nổi dậy bị thất bại, Đức quốc xã đã san phẳng thành phố Vác-xô-via, thủ đô Ba Lan đã biến thành đống đổ nát.

Thoát khỏi vòng vây tủa, anh xuống hoạt động tại thành phố Cra-cô-via đến cuối tháng 2 năm 1945. Trở lại Thủ đô anh vào họat động cho Ban Thông tin – Tuyên truyền của Tổ chức 'Nie'

Thời kỳ cộng sản

Đức phát xít thất bại và rút lui khỏi Ba Lan, Hồng quân Xô viết đến tháng 5-1945 đã làm chủ được cả nước Ba Lan. Dưới sự bảo trợ của Liên bang Xô viết một chính quyền cộng sản Ba Lan được hình thành, bước đầu là 'Ủy ban giải phóng Quốc gia Ba Lan' sau đổi tên thành 'Chính phủ lâm thời đoàn kết dân tộc'. Chính quyền mới ra sắc lệnh giải tỏa Quân đội quốc. Nước Ba Lan bước vào thời kỳ mới, thời kỳ cai trị cộng sản. Sự hiện diện và cai quản của Hồng quân xô viết trên đất nước Ba Lan được chính quyền cộng sản Ba Lan gọi là giải phóng, song phần lớn dân Ba Lan sau sự vui mừng giải phóng ban đầu đã nhận thức là đất nước họ lại bị cai trị bởi thế lực khác, thế lực cộng sản Xô viết qua chính quyền cộng sản Ba Lan. Sau 6 năm dưới ách Đức quốc xã, Hồng quân Xô viết cùng chế độ cộng sản đã đóng chân tại Ba Lan 49 năm.

Sau chiến tranh anh đã hợp tác với Viện Tưởng niệm Quốc gia thuộc Đoàn Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Ủy ban điều tra tội phạm phát xít Đức tại Ba Lan. Anh còn tham gia vào Đảng Nông dân – một đảng đối lập quan trọng duy nhất trong thời điểm này, và từng làm trong Ban biên tập tờ báo 'Nông dân' – cơ quan báo chí trung ương của Đảng Nông dân.

Ngày 15-11-1946 anh bị công an Ba Lan bắt với tội danh bịa đặt là làm gián điệp, nhờ sự giúp đỡ bên trong của bà Zô-phia Rud-ni-xka công tác tại Bộ Tư pháp, anh được trả tự do ngày 10-04-1948. Song anh lại bị tiếp tục bắt giam ngày 14-12-1949 và bị Tòa án quân sự thành phố Vác-xô-via kết án ngày 29-05-1952 bịa đặt tội danh là gián điệp với mức án 8 năm tù. Anh trải qua nhiều nhà tù như nhà tù ở Ra-vi, nhà tù ở Ra-chi-buz. Trong tù sức khỏe anh bị su nhược trầm trọng nên tháng 8 năm 1954 được hưởng 1 năm ra tù để chữa bệnh. Ngày 02-03-1955 Tòa án quân sự tối cao đã ra phán quyết là anh bị kết án sai và anh từ đó được trả tự do.

Sau khi ra tù anh lại lao vào hoạt động báo chí. Từ 08-1955 anh là Tổng biên tập các ấn phẩm chuyên nghiệp Hội Thư viện Ba Lan. Anh cũng có các bài viết đăng trong tạp chí 'Thủ đô' ra hàng tuần, anh đã trở thành biên tập viên và sau này là thư ký của Ban biên tập tạp chí 'Thủ đô'. Anh cũng đăng một lọat bài về 'Cuộc nổi dậy Vác-xô-via' trong tạp chí hàng tuần 'Thế giới'. Từ tháng 8-1957 anh ra hợp tác với Tuần báo công giáo mang tên 'Tygodnik Powszechny – Phổ biến hàng tuần'.

Từ năm 1963 ông bắt đầu đi giao lưu các nước như sang Izrael, sang Mỹ và các nước Tây Âu, liên lạc với các thành phần trí thức, chính trị đối lập của người Ba Lan tại nước ngoài như các ông Jan No-vắc Ie-giô-ran-xki (Jan Nowak Jeziorański), vợ chồng ông bà A-dam và Li-dia Châu-kos (Adam i Lidia Ciołkosz), Ian Ka-rờ-xki (Jan Karski), nhà thơ Che-slav Mi-los (Czesław Miłosz) czy nhà văn Gu-stav He-rơ-ling Gru-din-xki (Gustaw Herling Gruziński). Ông bắt đầu hợp tác với 'Đài Âu châu Tự do' từ tháng 12-1963.

Từ năm 1969 đến năm 1973 ông là Chủ tịch Hội những người bạn sách chi nhánh Vác-xô-via. Tháng 12 năm 1969 ông được bầu vào Hội đồng quản trị Câu lạc bộ văn bút PEN Ba Lan, và từ năm 1972 đến năm 1983 ông giữ chức Tổng thư ký Câu lạc bộ văn bút PEN Ba Lan.

Từ năm 1978 ông tham gia vào thành lập Hội Khóa học Khoa học, và tích cực tham gia giảng dạy tại tại Trường Đại học bay bí mật (Latający Uniwersytet).

Khi Thiết quân Luật được ban hành trên đất Ba Lan ( ngày 13-12-1981 ) ông cũng như các nhà hoạt động dân chủ khác bị quản chế, lúc đầu bị quản chế ở vùng ngoại ô Vác-xô-via, sau bị chuyển đi đến trại ở Ja-vor phía tây bắc Ba Lan. Nhờ sức phản đối mạnh mẽ của các tầng lớp trí thức trong và ngoài nước, chính quyền cộng sản Ba Lan đã phải trả tự do cho ông ngày 28-04-1982.

Ba Lan tự do

Ngày 4 tháng 6 năm 1989 diễn ra cuộc bầu cử Quốc hội tự do tại Ba Lan, khối Công đoàn Đoàn kết thắng lớn và ông Ta-đê-út Ma-dô-viết-xki (Tadeusz Mazowiecki) thành lập Chính phủ phi cộng sản đầu tiên tại một nước vẫn thuộc về khối các nước cộng sản. Ông Ba-rờ-tô-sev-xki lại hăng say vào công cuộc xây dựng một chế độ mới, một chế độ tự do, dân chủ. Từ năm 1990 đến năm 1995 ông đảm nhiệm chức vụ Đại sứ Đại sứ quán Ba Lan tại Áo. Ngày 28-04-199 với tư cách Bộ trưởng Bộ ngoại giao ( trong Chính phủ do thủ tướng là quan chức cộng sản cầm đầu ) ông là người nước ngoài duy nhất đã có bài phát biểu dài hơn 1 tiếng đồng hồ tại thủ đô Bonn, trong phiên họp đặc biệt kết hợp Thượng và Hạ viện Liên bang Đức nhân dịp 50 năm ngày kết thúc Thế chiến thứ hai.

Ngày 22-12-1995 ông từ trức Bộ trưởng khi Tổng thống Lech Va-le-sa (Lech Wałęsa) hết nhiệm kỳ, và Tổng thống mới là cựu cộng sản.

Từ năm 1997 đến năm 2001 ông được bầu vào Thượng viện Ba Lan, và đồng thời từ tháng 07-2000 dến tháng 10-2001 ông trở lại giữ chức Bộ trưởng Bộ ngoại giao. Ông cũng từng giữ vai trò Chủ tịch Ủy ban ngoại giao và Ủy ban Hội nhập Âu châu.

Từ 21-11-2007 cho đến nay ông được Thủ tướng giao chức vụ Thư ký Thủ tướng và Đại diện Thủ tướng trong đối thoại quốc tế.
Ngoài các hoạt động chính trị, ông còn tham gia vào các hoạt động văn hóa, khoa học cũng như xã hội khác, như ông đã từng là Chủ tich Hội đồng Quốc tế Bảo tàng Auschwitz, là thành viên Hội đồng về Quan hệ Do Thái – Ba Lan tại phủ Tổng thống. Od 03-1995 là Phó Chủ tịch và từ năm 2001 đến 2010 là Chủ tịch PEN Ba Lan. Từ nhiều năm ông luôn luôn đấu tranh và kêu gọi cho hòa hợp Ba Lan – Do Thái, Ba Lan – Liên bang Đức. Ông luôn quan tâm đến việc để cho thế hệ mai sau không quên đi những hình ảnh vinh quang của Chính quyền Ba Lan ngầm hồi Thế chiến thứ hai, hay như 'Cuộc nổi dậy Vác-xô-via', và không quên các chế độ độc tài phát xit cũng như cộng sản tai ác qua gần 40 cuốn sách và 1500 bài viết về Thế chiến thứ hai, về chiến tranh du kích, về 'Cuộc nổi dậy Vác-xô-via', cũng như về chế độ cộng sản độc tài…

Qua các hoạt động của mình ông đã nhận được bao nhiêu huân, huy chương trong nước và ngoài nước, như 'Huân chương Đại bàng trắng' – một huân chương cao quý nhất và lâu đời nhất tại Ba Lan, 'Thập tự Hiệp sĩ Tái sinh Ba Lan', 'Thập tự lớn có công cho Liên bang Đức'…

Mặc dù có nhiều công lao, có nhiều danh dự song ngài rất dản dị, phương châm sống của ngài là :”Nên sống phong nhã”. Có lẽ chính vì đó mà người dân Ba Lan rất kính phục ngài. Tại buổi tiệc sinh nhật Thủ tướng Ba Lan gọi ngài là 'kho báu của đất nước Ba Lan'.

Đời tư

Bố mẹ ông là ông Vla-đi-xlav và bà Be-a-ta Ba-rờ-tô-sev-xki (Władysław i Beata Bartoszewscy), ông có con trai là Vla-đi-xlav – nhà sử học, tác giả cuốn sách 'The Convent at Auschwitz - Klasztor w Oświęcimiu'.

Bến Việt theo nguồn tin Ba Lan

O ile nie zaznaczono inaczej, treść tej strony objęta jest licencją Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 License