Điếu văn các cháu nội viết cho thủ tướng Tadeusz Mazowiecki

Bến Việt (04.11.2013) Tin Ba Lan -“Khi có bất đồng hoặc trở ngại, ông là người đầu tiên muốn ngồi lại trong trao đổi. Hôm nay, chúng cháu muốn cám ơn ông đã dạy chúng cháu biết nhìn người đối diện và lắng nghe, bất kể ta có đồng tình hay không, bởi sự lắng nghe dẫn ta đến hòa hợp…”. Điếu văn gây rung cảm người nghe trong tang lễ Thủ Tướng Tadeusz Mazowiecki, cha của ba người con trai và ông của bảy người cháu nội.

flickr:10688741175

Thủ tướng Tadeusz Mazowiecki vừa từ trần
Thủ tướng dân chủ đầu tiên của Ba Lan được biết là người giản dị, chủ yếu đi bộ hoặc tàu điện và xe bus công cộng. Góa vợ hai lần, Tadeusz Mazowiecki một mình nuôi ba người con từ khi chúng còn nhỏ. Lần đầu bà Krystyna mất chỉ một năm sau ngày cưới. Người vợ thứ hai, Ewa, sinh hạ cho ông hai người con trai kế. Khi Tadeusz Mazowiecki bị bắt ngày đầu của Thiết Quân Luận năm 1981, con út của ông mới 13 tuổi.

Ông cùng hai con trai lớn soạn thảo diễn văn cầm quyền của Thủ tướng ông công bố mùa thu năm 1989. Ấn tượng ông để lại cho các cộng sự là đi chậm, thuốc lá, luôn dành thời gian một cách thái quá để lắng nghe và luôn tìm dung hòa như phương pháp đồng thời mục tiêu cần đạt.

Con, cháu của Tadeusz Mazowiecki là một trong những minh chứng về sự giản dị đời thường của ông, đồng thời ghi nhận ảnh hưởng của ông như một trí thức Công giáo không bao giờ chối bỏ trách nhiệm với đất nước.

Điếu văn của các cháu nội Thủ tướng Tadeusz Mazowiecki, do cháu gái Gabrysia đọc trong lễ tang ông mình tại nhà thờ chánh tòa Warszawa ngày 3 tháng 11 năm 2013

Ông nội yêu quý, các cháu của ông cùng nhau có mặt tại đây, như ông hằng thích. Không từ ngữ nào diễn tả hết nỗi buồn của chúng cháu về sự mất mát to lớn và đặc biệt đau đớn đối với chúng cháu. Chúng cháu đã mất một người yêu thương, người từng kết tụ cả gia đình chúng ta. Đức tin, hy vọng và tình yêu là những lý tưởng cả đời ông trung thành theo đuổi. Nhờ ông mà các lý tưởng đó cũng hiện diện trong đời sống của chúng cháu. Dẫu gặp nhiều bất trắc trong đời, ông chưa từng từ bỏ các lý tưởng đó.

Ông đã dạy chúng cháu tinh thần trách nhiệm, chỉ cho chúng cháu là: cần cố gắng tiến tới mục tiêu của mình. Khi có bất đồng hoặc trở ngại, ông là người đầu tiên muốn ngồi lại trong trao đổi. Hôm nay, chúng cháu muốn cám ơn ông đã dạy chúng cháu biết nhìn thẳng vào người đối diện và lắng nghe, bất kể ta có đồng ý hay không, bởi sự lắng nghe dẫn dắt ta đến hòa hợp.

Cám ơn ông nội về đức tin, nền tảng đời sống của chúng ta. Cảm ơn ông về những bài giảng về Giáo hội, được tạo thành từ những con người, song không nhất thiết phải nhắm mắt đi theo họ. Cảm ơn ông nội cho chúng cháu một gia đình, một gia đình mà như ông vẫn dạy, phải gắn bó với nhau bất chấp mọi hoàn cảnh. Cảm ơn ông về thái độ của ông nơi vùng khủng hoảng Bosnia – tại đây, ông đã thể hiện tính nhân bản cao quý nhất, cám ơn ông về một nước Ba Lan độc lập, cảm ơn ông vì tình yêu Tổ quốc, tình yêu được ông hiểu là chịu trách nhiệm cho vận mệnh Tổ Quốc.

Bất chấp tất cả, ông nội luôn có thời gian để làm ông của chúng cháu. Chúng cháu sẽ từ đây thiếu những bữa ăn chung luôn có súp, thiếu các viên chữ mà chúng ta cùng đặt trong trò chơi scrabble, thiếu những lần chơi tá lả và cổ vũ đội tuyển Ba Lan, thiếu bóng dáng của ông tưới nước trong vườn, thiếu mùi thuốc lá trong ga-ra… những điều chứng minh sự có mặt của ông trong nhà. Cám ơn ông đã luôn ở bên trong tất cả các khoảng khắc quan trọng và cả những sự kiện tầm thường của chúng cháu. Đơn thuần, ông đã luôn bên cạnh và chúng cháu không vĩnh biệt, bởi chúng cháu không biết vĩnh biệt. Chúng cháu sẽ nói “vậy nhé, pa”, như thường lệ mà thôi.

̀Ông đã từng sống, đang sống và mãi mãi sống trong trái tim của chúng cháu cũng như trong trí nhớ của gia đình. Điều này sẽ không bao giờ thay đổi, chúng cháu tự hào là những người cháu của ông, chúng cháu yêu ông, chúng cháu tin rằng bây giờ ông đang ở nơi ông đã hướng tới suốt cuộc đời, và chỉ lòng tin đó làm dịu nỗi đau mà chúng cháu cảm nhận ngày hôm nay.
Ola, Kasia, Kacper, Ewa, Marta, Filip và Gabrysia

Bến Việt dịch và biên soạn

O ile nie zaznaczono inaczej, treść tej strony objęta jest licencją Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 License