LEGENDY WARSZAWSKIE / SỰ TÍCH VÁC-SA-VA

Wars i Sawa

Pewnego razu wędrował król Kazimierz zwany
Odnowicielem z nowej stolicy w Krakowie do Gniezna, które
stolicą Polski do niedawna było. Płynął statkiem aż do
dalekiego Płocka, skąd już tylko dwa dni konnej podróży dzieliły go od Gniezna.

Kiedy król przechadzał się po pokładzie statku z wiślanego
brzegu dobiegł go smakowity zapach smażonej ryby. Mimo
protestów załogi, obawiającej się napotkać w nadwiślanej kniei
zbójców, król rozkazał przybić do brzegu i osobiście podążył w
ślad za wonnym dymem.

Nie zbójców napotkał, lecz ubogie małżeństwo Warsa i
Sawy, trudniące się rybactwem i uprawą maleńkiego pola w
puszczy. Podjęli Wars i Sawa gościa serdecznie, nie wiedząc
kogo los przywiódł w ich progi. A, kiedy po sutym posiłku, król
chciał obdarować ich złotymi monetami, odmówili, gdyż nie
godzi się przyjmować zapłaty za gościnę.

Wyjawił im król, kim jest i poprosił, aby jednak pozwolili
mu okazać wdzięczność za serdeczne przyjęcie. Sawa zaś
niedawno powiła bliźnięta, których małżonkowie nie mieli jak
ochrzcić, bo do najbliższej świą tyni było bardzo daleko.
Poprosili więc króla o pomoc w tej sprawie.

Król sprowadził ze statku swojego kapelana i sam trzymał
do chrztu dzieci Warsa i Sawy. </p>

Odchodząc zaś, nadał w posiadanie małżeństwa rozległe
ziemie nad brzegiem Wisły, zwąc nową osadę imionami
serdecznych gospodarzy.

!!

Wars và Sawa

Một ngày kia vua Kazimierz, vị vua được mệnh danh là
vua Tái Tân, từ đô thành Krakow về cố đô Gniezno. Vua đi
thuyền, tới tận vùng Płock xa xôi, cách Gniezno hai ngày đi
ngựa.
Khi vua đang dạo quanh mạn thuyền trên dòng Vít-xoa,
bỗng ngửi thấy mùi hương cá rán vô cùng hấp dẫn. Dẫu thuỷ
thủ trên thuyền can ngăn, sợ khi xuống bờ, vua sẽ bị cướp tấn
công, vua vẫn ra lệnh ép thuyền vào bờ rồi đi lần theo hướng
có mùi thơm đặc biệt đó.
Vua không gặp phải nhóm cướp nào, mà gặp hai vợ
chồng nghèo lên là Wars và Sawa, sống qua ngày nhờ đánh cá
và trồng trọt, bên thảm cỏ trong rừng. Vợ chồng Wars và
Sawa tiếp vua rất niềm nở, dẫu không biết vị khách quý của
mình là ai. Sau bữa ăn thịnh soạn, vua muốn tặng hai vợ
chồng tiền và vàng bạc, thì hai vợ chồng nhất định từ chối, bởi
họ không chấp nhận đổi lòng hiếu khách lấy tiền.
Vua khi đó mới tiết lộ vị thế của mình, đồng thời bảo hai
vợ chồng hãy nhận sự biết ơn đã tiếp đón vua chan hoà.
Sawa, vốn không lâu trước đó mới cho ra đời cặp sinh đôi mà
chưa làm được lễ nhập đạo cho con bởi đền thờ cách quá xa.
Vợ chồng Wars và Sawa nhờ vua giúp đỡ.
Vua mời vị linh mục cùng đi trên thuyền làm lễ đồng thời
vua còn là người trực tiếp ẵm hai con của Wars và Sawa trong
lễ rửa tội.
Khi chia tay, vua lấy tên của cặp vợ chồng Wars, Sawa để
đặt tên cho mảnh đất tình nghĩa và hiếu khách bên dòng Vítxoa.

Warszawska syrenka

Działo się to wtedy, kiedy osada Warsa i Sawy była już
kwitnącą wioską rybacką. Leżała, jak powiadają tu, gdzie dziś
przebiega ulica Solec.

Do Bałtyku przypłynęły dwie syrenki – siostry wielkiej
urody. Jedna z nich osiadła w morzu, przy brzegu duńskiej
stolicy, druga wpłynęła do Wisły i zamieszkała w połowie jej
biegu, pokochała bowiem ludzi, którzy ciężką pracą wznosili
nowe miasto. I oni ją pokochali. Do najmilszych chwil wieczora
należały te, kiedy odpoczywając po pracy Warszawiacy
przysiadali na brzegu Wisły i słuchali śpiewu cudownej istoty.

Ale znalazł się wśród nich chciwy kupiec, który postanowił
uwięzić syrenkę, spodziewając się sprzedać ją za wielki majątek

– dziw to bowiem był nad dziwy.
Jak pomyślał, tak uczynił. Na wiślanym brzegu, gdzie
lubiła przysiadać syrenka, zastawił pułapkę i uwięził ją.
Rybacy usłyszeli smutny ś piew syrenki z szopy kupca.
Niewiele myśląc wyłamali drzwi i uwolnili ją.
Podziękował im syrenka za zwróconą wolność. Ale też
powiedziała, że skoro nie wszystkim można wierzyć, nie będzie
już z nimi co dzień przebywała. Pojawi się za to, z rycerskim
rynsztunkiem, jeśli jej pomoc będzie Warszawiakom konieczna
dla obrony ich własnej wolności.

Wiele od tego czasu przeszła Warszawa trudnych chwil,
ale syrenka nigdy jeszcze nie musiała przyjść im z pomocą.
Kochając bowiem wolność, sami potrafili zawsze ją obronić. A
może – syrenka, choć niewidoczna, pomaga w trudnych
chwilach? Któż to wie…

Tiên cá Vác-sa-va

Chuyện này diễn ra khi cái làng mang tên Wars và Sawa
đã trở thành làng cá hưng thịnh. Con làng nằm tại nơi mà
nay là phố Solec.
Có hai chị em tiên cá nọ bơi vào biển Bao-tích. Cả hai chị
em đều là hai thiếu nữ tuyệt đẹp. Một cô thì ở lại biển, bên bờ
thủ đô Đan-mạch, cô thứ hai thì bơi tới sông Vít-xoa rồi ngự
lại tại nhánh giữa của dòng sông. Cô ở đó bởi đã mang lòng
thương yêu người dân bên sông, những người lao động cật
lực xây dựng thành phố mới. Và người dân nơi đây cũng yêu
mến nàng tiên của mình. Giờ phút tuyệt vời nhất sau một
ngày lao động mệt nhọc là khi dân chài Vác-sa-va nghỉ ngơi
mỗi tối bên bờ Vít-xoa, lắng nghe tiếng hát tuyệt diệu của nàng
tiên cá.
Thế nhưng, trong số những người dân chài, có một nhà
thương tham lam, rắp tâm bắt giam nàng tiên cá hòng bán
nàng để đổi lấy vàng quý.
Gã thương gia nghĩ gì làm đó. Gã rình nơi nàng thường
ngồi thẩn thơ, giăng bẫy rồi bắt cóc nàng tiên cá ngay bên bờ
Vít-xoa.
Dân chài xung quanh nghe được tiếng hát thê lương của
nàng vọng ra từ chiếc chòi của gã thương gia. Chẳng cần chờ
lâu, dân chài ngay tức khắc phá cửa và cứu nàng khỏi ách cai
đầy.
Nàng tiên cá cảm tạ dân chài cứu nàng được tự do.
Nhưng nàng cũng bảo rằng nếu không thể tin được hết thảy
mọi người thì nàng đành thôi gặp gỡ người dân mỗi ngày.
Nhưng nếu một khi người dân Vác-sa-va cần nàng chung tay
bảo vệ tự do, nàng sẽ hiện về với gươm đao để ra tay cứu giúp.
!
Kể từ hồi đó, Vác-sa-va đã trải qua bao thăng trầm nhưng
cũng chưa bao giờ thành phố bị nguy nan tới mức nàng tiên
cá phải ra tay. Bởi chính người dân Vác-sa-va rất yêu chuộng
tự do, nên họ cũng biết tự thân bảo vệ tự do của mình. Mà biết
đâu, có thể nàng tiên cá, dẫu không hiện diện, vẫn luôn hỗ trợ
người dân mỗi lúc nguy nan. Ai mà biết được…

Historia o Pustelni Trzech Krzyży

Było to bardzo dawno temu, kiedy dzisiejsze centrum
Warszawy porastała dzika puszcza, pełna zwierza i
niedostępna.

Wybrał się na łowy książę Ziemowit, rezydujący w zamku
na Jazdowie. Był z niego wyborny znawca obyczajów zwierząt,
ale widok, który napotkał zadziwił go ogromnie. Oto z gęstwy
drzew wynurzył się ogromny niedźwiedź, dźwigający naręcze
plastrów, kapiących wonnych miodem. Niedźwiedzie, jak
każdy to wie, chętnie podbierają miód leśnym pszczołom, ale
raczą się nim na miejscu. Nie rozumiał książę, po co ten dźwigał łup
przez puszczańskie ostępy. Pojechał więc w ślad za nim.

To, co ujrzał, zdumiało go tysiąckroć bardziej. Oto
niedźwiedź zaniósł miód do ubogiej chatki, stojącej na leśnej
polanie. Z chatki wyszło trzech starców, którzy przyjęli od
zwierzęcia podarunek i podrapali go po łbie i plecach jak
pokojowego pieska.

Zorientował się Ziemowit, że ma przed sobą trzech
pustelników, którzy całe dnie spędzają na chwaleniu Boga a
żywią ich mieszkańcy puszczy, pełni miłości do dobrych
sąsiadów. Wycofał się a od następnego dnia rozkazał swoim
sługom dostarczać codziennie do chatki pustelników skrzynie,
pełne wybornego jadła.

Niestety, puszczańscy zbóje wypatrzyli książęcych
posłańców i – przekonani, że wiozą oni do pustelni skarby –
napadli na chatkę.

Następnego dnia książęcy posłaniec zastał chatkę pustą.
Czy zbóje uprowadzili pustelników, czy ci odeszli sami, aby
znowu rozkoszować się samotnością i przestawać jedynie z
Bogiem i przyrodą – nikt nie wie.

Książę Ziemowit, na ich pamiątkę, postawił na leśnej
polanie, gdzie była ich chatka trzy krzyże. Odtąd miejsce to
zwano Pustelnią Trzech Krzyży a, kiedy objęło je miasto,
Placem Trzech Krzyży. Taką nazwę nosi do dziś.

Truyền thuyết Vùng Tam Thập Hẻo Lánh

Ngày xửa ngày xưa, câu truyện xảy ra khi trung tâm thủ
đô Vác-sa-va còn là một vùng đất hoang vu không bóng người,
chỉ toàn thú hoang sinh sống. Hoàng tử Zie-mo-vít, vốn ngụ tại
thành Jaz-dow, một ngày kia quyết đi săn. Hoàng tử Zie-movít,
vốn là người thông thạo muông thú, nhưng vẫn vô cùng
ngạc nhiên trước những gì bắt gặp. Chàng bắt gặp một chú
gấu khổng lồ lộ ra từ đám cây chen trít, ôm trên người cả tấm
mật ong tươi, chảy ròng ròng, thơm phức. Gấu rừng, như tất
cả đều biết, rẩt thích cuỗm mật của ong rừng rồi đánh chén
ngay tại chỗ. Vị hoàng tử không hiểu nổi tại sao chú gấu nọ lại
vác mật theo mình suốt chặng đường rừng. Chàng quyết tâm
lần theo dấu vết để trả lời câu hỏi.
Những gì chứng kiến khiến hoàng tử ngạc nhiên gấp bội.
Chú gấu mang mật tới một căn lều lụp xụp bên bìa rừng. Từ
trong lều, ba người đi ra, tất cả đều đã già. Gấu trao cho
những người này mảng mật và được họ gãi gãi vào đầu, vào
lưng, y như gãi chó trông nhà vậy.
Vị hoàng tử Ziemowit hiểu ra rằng ba người trong túp lều
là những người của miền rừng hẻo lánh, ngày lại ngày tập
trung vào một việc duy nhất là tôn vinh Thượng Đế. Dân
chúng trong rừng nuôi họ, coi họ là những vị láng giềng tốt
bụng. Vị hoàng tử rút lui và ngay ngày hôm sau, chàng ra lệnh
cho chư hầu hàng ngày bỏ táo ngọt vô thùng rồi mang tới ngôi
lều đó.
Thật không may, bọn cướp rừng theo dõi đường đi của
chư hầu và nhầm tưởng rằng các thùng táo chứa đầy châu
báu nên chúng đã tới cướp ngôi lều.
Ngày hôm sau nữa, sứ giả của hoàng tử tới nơi thì trong
căn lều chẳng còn ai, hoàn toàn trống trải. Không rõ số phận ba
người trong lều ra sao, liệu có phải họ đã bị bọn cướp bắt đi,
hay là họ đã tự giác rời căn lều nhỏ để hưởng thụ cuộc sống
đơn côi chỉ nhằm thờ phụng Thượng Đế và để sống cùng
thiên nhiên - chả ai được biết.
Hoàng tử Ziem-mo-vít, để tưởng nhớ những người này,
mới dựng ba dấu thập nơi ba người từng dựng ngôi lều nhỏ.
Và thế là nơi đó được mang tên Vùng Tam Thập Hẻo Lánh.
Vùng này, sau khi nhập vào đô thị, được gọi là Quảng Trường
Tam Thập, cho tới tận hôm nay.

Jak rycerz Maćko diabła pokonał

W XVI wieku żył w warszawie rycerz Maćko – słynnysiłacz, zawadiaka i żołnierz wielkiej odwagi.

Biesiadował on pewnego razu w gronie kompanów w
szynku przy Rynku Starego Miasta. Rozmowa przy winie
nabierała rumieńców, wreszcie ktoś z kompanów zarzucił
Maćkowi, że choć rębajło z niego tęgi, ale mędrzec – na pewno
nie.

-Rozumu mam dość! Nie mniej, niż siły i umiejętności
żołnierskich! - oświadczył butnie Maćko i, żeby słowa
jego zabrzmiały jeszcze mocniej, uderzył pięścią w stół
i dodał
-Samego diabła oszukam, o duszę gotów jestem się
założyć!
Ledwo słowa wybrzmiały, przy stole pojawił się nowy
gość. Niski, ubrany z niemiecka. Pod czapką wyraźnie dostrzec
można było dwa nieduże rogi.

-Założyć się Waćpan chcesz? Otom gotowy!
Zrzedła Maćkowi mina, bo z diabłem to nie przelewki, ale
wino i żołnierski honor od zakładu mu odstąpić nie pozwoliły.
Rzekł więc tak:

-Jeśli, po wypiciu przez nas po całym dzbanie wina,
przez godzinę nie zdołasz, czarcie, sam wstać z ławy,
zakład wygram i wypłacisz mi sto dukatów. Jeśli zaś
zdołasz, masz moją duszę.
Uśmiechnął się diabeł pod wąsem na myśl o łatwej
zdobyczy. I warunki zakładu przyjął.

Wypili więc po dzbanie wina, po czym diabeł wstał z
ławy. Razem z nim wstał Maćko. Dziesięć jeszcze razy wstawał
diabeł a za każdym razem Maćko czynił to samo. Kiedy minęła
godzina, każdy z nich oświadczył, że zakład wygrał.

Zgromadzeni jednak rozsądzili rzecz na korzyść Maćka.
Ani razu bowiem diabeł nie wstał z ławy sam, choć wstawał o
własnych siłach.

Wielka radość ogarnęła kompanów, bo wygrane od czarta
sto dukatów przeznaczył Maćko na wino dla całej kompanii i to
przez cały następny rok. A diabeł odszedł jak niepyszny.

Tak to zbyt łatwa zdobycz może okazać się pułapką, jeśli
słowa rozumieć wedle własnego oczekiwania.

Hiệp sĩ Maćko thắng quỷ ra sao

Hồi thế kỉ XVI, tại Warszawa có chàng hiệp sĩ Maćko –
một lực sĩ vừa khoẻ mạnh, vừa quả cảm, vừa kiên trung và
đầy dũng mãnh.
Một ngày kia, trong lúc ngồi tán ngẫu cùng những người
đồng đội của mình ngay cạnh Chợ Thành Cổ, vui rượu, một
người bạn của Maćko nói Maćko ắt hẳn rất to con, lực lưỡng,
nhưng chắc gì đã là người mưa kế và thông minh.
Maćko tự tin trả lời rằng trí khôn của anh không kém gì thể
lực. Và để khẳng định điều đó, Maćko nện tay xuống bàn
thách thức:
- Tôi dám thách cả quỷ thần rằng tôi lừa được quỷ. Nếu
không, cho quỷ cướp hồn tôi đi.
!
Mới nói tới đó, bỗng xuất hiện một người đàn ông vẻ ngoài kì
dị, chùm khăn kín mít nhưng không dấu nổi hai chiếc sừng
cộm lên dưới chiếc mũ dày cáu bẩn.
!
· Ngươi muốn thách thức ta ư? Ta sẵn sàng!
Maćko tái mặt, bởi biết quỹ dữ không đùa. Nhưng bởi đã
ngấm rượu và bởi lòng tự trọng, anh quyết giữ lời đã
hứa. Maćko bèn nói:
- Nếu hai ta cùng uống hết bình rượu này trong vòng một
giờ, thưa quỷ, mà quỷ không thể một mình đứng dậy thì
quỷ thua tôi thắng và như vậy, tôi được thưởng một
trăm đồng vàng. Nhưng nếu quỷ thắng, tâm hồn tôi sẽ
thuộc về quỷ.
Người đàn ông cười khẩy, chắc chắn phần thắng về mình
rồi đồng ý với điều kiện đưa ra.
Hai người uống hết bình rượu và quỷ đứng lên. Maćko
thấy thế cũng đứng lên cùng lúc. Cứ như vậy mười lần liền,
quỷ ngồi xuống rồi đứng lên, Maćko đều làm y hệt. Sau một
giờ đồng hồ, cả hai bên đều công bố thắng cuộc.
Thế nhưng mọi người quanh đó đều công nhận phần
thắng thuộc về Maćko bởi chả có lần nào quỷ đứng lên một
mình, dẫu quỷ vẫn đứng lên ngồi xuống mà không cần ai giúp.
Cả đoàn quân hồ hởi vui mừng, Maćko dùng tất thảy một
trăm đồng vàng lấy được chỉ để mua rượu vang mời bầu bạn.
Còn người đàn ông quỷ đành lủi thủi ra về.
Vậy đó, phần quà tưởng dễ đoạt được hoá ra lại trở
thành cạm bẫy nếu chỉ biết phân tích lời nói thuận theo ý của
mình.

!

Bazyliszek

Pod Starym Miastem ciągną się długie, wielopiętrowe
podziemia. Kiedyś kupcy magazynowali w nich towar, łatwiej
też było poruszać się nimi z ciężkim wózkiem niż ciągnąć go po
drewnianym bruku ulic. Niektóre korytarze prowadziły za
miejskie mury i miały służyć obrońcom miasta.

Nie wiadomo skąd, na Krzywym Kole, w jednej z piwnic
pojawił się skarb. A, że skarbu zwykle pilnują ciemne moce – w
ślad za nim pojawił się Bazyliszek: smok o wężowym ciele,
kogucich skrzydłach, łapach i dziobie, i o spojrzeniu
magicznym, które zamieniało w kamień każdego, kto je
zobaczył. Przechadzał się Bazyliszek po staromiejskich lochach i
zdawało się, że nikt już nigdy nie odważy się zejść pod ziemię.

Aż, pewnego dnia, do lochów wpadł w pogoni za piłką
mały chłopiec. W miejscu wypadku zebrał się tłum, nikt jednak
nie śmiał zejść chłopcu na pomoc, dało się bowiem spod ziemi
słyszeć chrobot pazurów potwora.

Znalazł się jednak śmiałek, młodziutki czeladnik szewski,
który pobiegł szybko da warsztatu swojego majstra i
przydźwigał stamtąd wielkie lustro, w którym zwykle klienci
podziwiali buty, które im sprawił. Chwycił lustro mocno,
ustawił przed sobą i – dał nura do piwnicy.

Po chwili wyszedł stamtąd, niosąc zemdlonego chłopca,
który uderzył się przy upadku w głowę i dlatego nie spojrzał z
zabójcze oczy bazyliszka. Potwór zaś, zobaczywszy w lustrze
swoje odbicie skamieniał i do dziś stoi w piwnicy na Krzywym
Kole. Gdzie zaś jest skarb, którego pilnował – tego nie wie nikt.

Ba-dư-li-sếc

Dưới chân Thành Cổ là vô số tầng hầm hun hút, nhiều
bậc. Trước kia, các thương gia chứa hàng dưới những tầng
ngầm như vậy. Một số tầng hầm là đường bí mật dẫn ra tận
ngoài tường thành, để thoát hiểm hoặc tự vệ trong trường
hợp nguy nan.
Không rõ từ khi nào, trên phố Krzywe Koło – Bánh Xe
Méo, một kho của quý được cất giữ. Mà các kho báu thì
thường bị quỷ ác canh giữ. Kho báu ở đường Bánh Xe Méo do
Ba-dư-li-sếc (Bazyliszek) canh. Quái vật Ba-dư-li-sếc trông
giống rồng nhưng mình mẩy lại là mình mẩy rắn, có móng
vuốt, mỏ và hai cánh hai bên như hai cánh gà trọi rộng bản.
Đôi mắt Ba-dư-li-sếc rất ghê rợn, hễ ai nhìn vào, ngay lập tức
bị hóa đá. Ba-dư-li-sếc núp dưới hầm sâu khiến không ai dám
xuống đó.
Thế nhưng, một ngày kia, có một cậu bé chạy theo quả
bóng rồi rơi xuống tầng hầm. Dân chúng gần đó xúm lại,
nhưng không ai dám xuống hầm cứu cậu, bởi ai cũng nghe
thấy tiếng thở phì phò và tiếng móng vuốt của Ba-dư-li-sếc cọ
xát dưới tầng hầm.
May thay, một anh thợ đóng giày quả cảm nghĩ ra kế cứu
cậu bé. Anh mang theo chiếc gương vốn được dùng để khách
hàng của anh soi mỗi khi thử giày anh sửa. Anh buộc gương
vào người rồi trườn mình xuống hầm sâu.
Một lúc sau, anh trở lại, mang theo cậu bé đã ngất xỉu.
Khi ngã xuống hầm, cậu bé bị ngất nên không kịp nhìn thấy
Ba-dư-li-sếc còn Ba-dư-li-sếc, sau khi nhìn thấy chính mình
trong gương, ngay lập tức bị hóa đá và đứng đó cho tới ngày
hôm nay, dưới tầng hầm phố Bánh Xe Méo. Còn kho báu do
Ba-dư-li-sếc canh gác nằm đâu – chả ai được rõ.

Dlaczego bieda piszczy

Za panowania króla Jana Kazimierza żył o sobie w
Warszawie dwóch braci. Michał miał serce dobre, chętnie
każdemu pomagał, Jędrzej był samolubnym człowiekiem,
myślącym wyłącznie o sobie.

Obaj odziedziczyli po rodzicach niewielki, ale
wystarczający do życia, majątek. Jędrzej swoją część pomnożył
i rychło stał się jednym z najbogatszych mieszkańców
Warszawy. A Michał?

Tak się zdarzyło, ż e Michał spotkał przy warszawskich
rogatkach jakąś postać wychudzoną tak niezmiernie, o tak
smutnym spojrzeniu, że ogarnięty współczuciem zatrzymał się
i podzielił z nią chlebem, który miał za pazuchą. Zyskał w ten
sposób przyjaciela, który z wdzięczności nie odstępował go już
na krok. Skąd miał wiedzieć, biedny Michał, że tą wynędzniałą
osobą była sama Bieda?

Bieda tak do Michała przylgnęła, że wkrótce stracił dach
nad głową, chodził po mieście głodny, prosząc o kawałek chleba
albo wyławiał z dna rzeki piasek, który sprzedać mógł bardzo
tanio, napracować zaś musiał się ogromnie.

Nie obchodziło to Jędrzeja, który powtarzał, że „każdy jest
kowalem swego losu” i nie poczuwał się do tego, ż eby bratu
choć trochę pomóc.

Kiedyś, kiedy Michał osłabł z głodu, przyszedł do domu
brata, prosząc o cokolwiek do jedzenia. Niegodziwy Jędrzej
rzucił mu ogryzaną właśnie przez siebie wołową kość z
pieczeni. Michał ogryzł to, co na kości zostało a Biedzie pozwolił
wyssać ze środka szpik. I, kiedy Bieda wlazła do kości, szybko
zwarł ze sobą rozdzielone jej części, pozostawiając Biedę
wewnątrz. Kość zostawił na ulicy a sam, wolny od Biedy,
poszedł znaleźć wreszcie pracę, która pozwoli mu żyć godnie. Co
też mu się udało.

Porzuconą kość znalazł wychodzący z domu Jędrzej.
Ominąłby ją obojętnie, gdyby nie usłyszał, ż e wewnątrz coś
wyraźnie piszczy. Zaintrygowany, podniósł kość i rozwarł ją w
miejscu, gdzie była przełamana. Wdzięczna za uwolnienie
Bieda od tej pory towarzyszyła krok w krok Jędrzejowi, który,
ma się rozumieć, stracił wszystko co miał.

Ale nie chodził głodny i miał dach nad głową. Przygarnął
go bowiem Michał – nie chowając urazy za wcześniejszą
niegodziwość brata. Bowiem Michał, jak powiedzieliśmy na
początku opowieści, miał serce dobre.

A do dziś, na wielką biedę, mówi się „piszcząca bieda”, choć
niewielu już pamięta dlaczego się tak mówi.

Giải thích ngạn ngữ: „nghèo õn ẹt”

Thời vua Jan Kazimierz trị vì, có hai anh em nhà kia ngự
tại Warszawa. Một người tên là Michał, vô cùng tốt bụng và
nhân hậu, ai cần chi anh cũng vui vẻ giúp đỡ. Anh thứ hai,
Jędrzej, thì ích kỉ, chỉ biết nghĩ tới bản thân.
Hai anh em được thừa kế một khối tài sản cha mẹ để lại.
Tài sản không lớn nhưng giúp hai anh em đủ sống qua ngày.
Phần tài sản của mình, Jędrzej nhân gấp bội và không lâu sau
trở thành người giàu có. Còn Michał thì sao?
Một ngày kia, Michał bắt gặp một ông lão vừa gầy vừa
yếu, vẻ mặt buồn bã đứng gần cổng chào của Warszawa. Cảm
thông cho tình cảnh của ông lão, Michał dừng chân và chia cho
ông lão mẩu bánh mì anh sẵn mang theo. Nhờ đó, lão già kết
bạn với Michał và không rời anh nửa bước. Nhưng Michał
nào đâu có biết, rằng ông lão đó không phải ai khác mà chính là
Cái Nghèo.
Cái nghèo đeo đuổi Michał quá nên không lâu sau, Michał
mất nhà, lang thang với cái bụng đói meo, phải làm kiếp ăn
mày quanh năm đi xin bánh mì cầm cự. Anh thậm chí còn
phải bới cát dưới sông lên bán chỉ để nhận lại vài xu sau cả
ngày lao động cật lực.
Biết vậy nhưng Jędrzej không giúp gì mà chỉ luôn miệng
bảo „hãy tự điều khiển số phận của mình”, không thèm thương
tình cảnh hẩm hiu của Michał.
Một ngày kia, Michał mệt lả vì đói, gõ cổng nhà Jędrzej
nhưng người em bạc nhược chỉ vứt ra cho anh mình miếng
xương bò khô khốc. Michał gặm miếng xương vốn chả còn tí
thịt nào dính lại còn Cái Nghèo thì được mút phần tủy trong
xương. Tới khi Cái Nghèo ăn sâu vào tủy, Michał ghép các
mảnh xương vỡ rồi cột chúng lại, nhốt Cái Nghèo trong đó rồi
quẳng ra đường. Không còn Cái Nghèo đeo đuổi nữa, chàng
Michał đi tìm việc và sau khi tìm được công việc thích hợp,
anh bắt đầu sống cuộc sống đường hoàng
Còn miếng xương bị quẳng ra đường, không lâu sau lại
tìm được chủ mới là Jędrzej. Jędrzej đang đi trên đường, chả
thèm để ý tới miếng xương nhưng Cái Nghèo phát ra tiếng
kêu õn ẹt khiến Jędrzej vô cùng tò mò. Jędrzej nhặt miếng
xương lên và lần theo đường nứt, phá miếng xương đó ra.
Cái Nghèo mừng quá và để tỏ lòng biết ơn ân nhân trả tự do
cho mình, Cái Nghèo quyết không rời Jędrzej nửa bước. Chả
bao lâu sau đó, Jędrzej mất hết của cải cùng tất cả những gì
từng dành dụm được. Thế nhưng Jędrzej không bị Michał hắt
hủi, được cho ăn và được Michał cho cả chỗ ở. Michał, dẫu
vẫn nhớ người em từng bạc nhược với mình nhưng anh
không hề tỏ ra thù oán gì em. Bởi vì, như đã được giới thiệu ở
đầu câu chuyện, Michał là người có trái tim nhân hậu.
Cho tới ngày hôm nay, câu cửa miệng để tả cái nghèo là
„nghèo õn ẹt”, dẫu ít ai nhớ nguồn gốc của câu nói này xuất
phát từ đâu.

Złota kaczka

Kiedy Europą wstrząsały wciąż nowe wojny między
państwami a także między możnowładcami, wielu
przemierzało ją zaciężnych żoł nierzy, gotowych do walki za
opłatą. Surowe to były czasy a dola żoł nierzy była ciężka.
Kiedy rany czy wiek czyniły ich niezdolnymi do dalszej walki –
zwykle czekał ich los żebraków.

Taki właśnie, żołnierz trafił razu pewnego do Warszawy.
Dzielny był to człowiek, ale lekkomyślny. W poszukiwaniu
zajęcia udał się do szynku przy ulicy Piwnej, gdzie napotkał
grupę takich, jak on zawadiaków, żyjących z dnia na dzień.

Trudno było wtedy o żołnierską służbę w Warszawie, na
polskich ziemiach bowiem panował pokój. Opowiedzieli mu
jednak kamraci o wielkim skarbie, który człowiek odważny
może zdobyć a który ukryty jest w piwnicach Zamku
Ostrogskich przy Tamce. Strzegą go jednak złe moce, nad
którymi rządy sprawuje złota kaczka. Nikt nie wiedział nic
więcej, wszyscy bowiem śmiał kowie, którzy się po skarby
wybrali, przepadli bez wieści.

Wybrał się nasz żołnierz tej samej nocy na poszukiwanie
skarbu. Nie znał dotąd uczucia strachu, więc ani chwili się nie
wahał.

Straszna była droga przez podziemne korytarze. Wiele
razy spotkał strachy, które każdemu kazałyby czym prędzej
brać nogi za pas. Ale nie jemu! Wreszcie stanął na brzegu
podziemnego jeziora i, w ś wietle ł uczywa, zobaczył przy
samym brzegu złotą kaczkę z koroną na głowie. A za wodą
skrzyły się złoto i klejnoty w ogromnych skrzyniach.

-Odważny jesteś, żoł nierzu. -powiedziała kaczka. -
Wszystko, co tam widzisz będzie twoje, ale musisz
spełnić jeszcze jeden warunek. Masz oto sakiewkę ze
złotymi monetami, musisz wszystkie je wydać w
ciągu doby, ale wyłącznie na siebie. Nie wolno ci
podzielić się z nikim ani groszem!
-To nie jest trudne zadanie! - zaśmiał siężołnierz i już,
oczami wyobraźni, widział siebie jako bogacza,
mieszkającego we wspaniałym pałacu.

Przez cały następny dzień nasz żoł nierz kupował sobie
najdroższe stroje, broń, kupił wspaniałego wierzchowca i
powóz, zaprzężony w szóstkę koni. Wieczorem stwierdził z
zadowoleniem, ż e w sakiewce nic prawie nie zostało. Kiedy
powóz skręcał już z Krakowskiego Przedmieścia w Tamkę,
zobaczył pod murem żołnierza, takiego jak on sam, który stracił
w boju rękę i prosił przechodniów o wspomożenie kromką
chleba czy choćby grosikiem. Lekkomyślny był nasz żołnierz,
ale serce miał dobre. Niewiele więc myśląc, zatrzymał powóz i
pozostałe monety wręczył żebrakowi.

Wtedy wieczorny mrok rozbłysł dziwnym światłem i
przed żołnierzem wyrosła, nie wiedzieć skąd, bogato odziana
panna, wielkiej lecz niemiłej urody, z koroną na głowie.

-Nie dotrzymałeś słowa! -powiedziała królowa
demonów. - Nie wydałeś pieniędzy na siebie, nie jesteś
więc godzien skarbu!
Tyle miała do powiedzenia i znikła tak niewidocznie, jak
się wcześniej pojawiła. A razem z nią znikł powóz i rumak, i
bogate szaty. Żołnierz stał na ulicy w swoim starym stroju, z
wysłużoną szablą u boku.

-Zła to panna i złe miała zamiary, skoro nagrodzić cię
miała za samolubstwo. -odezwał się żebrak. -Idź
lepiej, kolego, póki zdrowie ci dopisuje, poszukać sobie
jakiegoś uczciwego zajęcia.
Posłuchał żołnierz dobrej rady. Osiadł na Starym Mieście i
zajął się rzemiosłem. Mądrego żebraka zatrudnił zaś u siebie.

A o złotej kaczce słuch zaginął. Być może w podziemiach
na Tamce czekają wciąż nieprzebrane bogactwa. Ale, czy warto
sięgać po skarb, za który trzeba płacić chłodem serca?

Con vịt vàng

Khi Châu Âu lâm vào cảnh rối ren với chiến tranh giữa
các cường quốc, nhiều người đã tham trận để đổi lấy đồng
lương. Thời đó, ai cũng khổ sở, mà đời người lính còn khổ
hơn. Nhỡ bị thương nơi chiến trận hoặc khi tuổi đã về già
không thể ra trận, những người trước kia làm lính phải làm
kiếp ăn mày.
Ngày nọ, một người lính ăn mày đặt chân tới Vác-sa-va.
Anh ta là người quả cảm, nhưng cũng rất ngây thơ. Để tìm
việc kiếm sống, anh lần tới khu chợ người trên phố Piwna,
nơi có rất nhiều người cùng cảnh như anh, chỉ biết sống qua
ngày.
Khi đó, chả có ai cần lính tráng ở Vác-sa-va, đơn giản vì
trên toàn lãnh thổ Ba Lan mọi nơi đều thái bình. Những
người đồng cảnh kể cho anh nghe về kho báu mà phải là
người quả cảm mới mong lấy được. Kho báu được dấu trong
tầng ngầm của Thành Ostrogski gần dốc Tamka. Nhưng kho
báu đó bị ác lực canh gác, mà đứng đầu ác lực là một con vịt
vàng. Không ai biết gì hơn, bởi tất thảy những người liều lĩnh
trinh phục kho báu đều biến mất tăm hơi.
Ngay tối đó, anh chàng cựu lính chiến của chúng ta quyết
tâm đi tìm cho được kho báu. Anh chưa từng biết thế nào là
sợ, nên cũng chả ngại ngần.
Đường xuống tầng hầm thật cam go. Đã nhiều lần gặp
phải nguy nan khiến người yếu bóng vía khiếp đản hoặc bỏ
chạy, nhưng anh lính của chúng ta thì không. Rốt cuộc, anh
tới bên mép của hồ nước ngầm. Nhờ ánh sáng ngọn đuốc, anh
thấy bên bờ một con vịt vàng đội vương miện. Xa hơn nữa,
bên kia hồ nước, các thùng châu báu to vật sáng rực ánh vàng.
- Người kia, ngươi thật là dũng cảm - vịt nói. - Tất cả những
gì anh thấy bên kia hồ sẽ là của anh, nếu anh thoả mãn một
điều kiện duy nhất. Đây là túi đồng vàng, anh phải làm sao
tiêu hết túi tiền này trong một ngày, mà chỉ tiêu nó cho mình
anh thôi. Tuyệt đối không được chia cho bất cứ ai, dẫu chỉ một
đồng!
- Đâu có gì là khó! Người lính bật cười. Anh tưởng tượng
tương lai sáng lạng của mình làm gã đàn ông giàu có trong lâu
đài tráng lệ.
Suốt cả ngày sau đó, người lính của chúng ta mua cho
anh không biết bao nhiêu của cải, từ gươm kiếm, vải vóc và cả
cỗ xe lục mã tuyệt đẹp. Tối đến, anh chàng rất vui vì trong túi
gần như không còn chút gì. Khi cỗ xe của anh rẽ từ đường
Krakowskie Przedmiescie vào dốc Tamka, anh bỗng thấy một
người lính đứng dưới chân tường. Người lính này bị mất tay
trong cuộc chiến nên phải xin người qua đường bánh mì hoặc
xu lẻ. Người lính của chúng ta lại là người rất hồ hởi, với trái
tim đôn hậu. Chả suy nghĩ bao lâu, anh cho xe dừng lại và trao
toàn bộ số tiền còn lại cho người ăn xin kia.
Đúng lúc đó, không gian buổi tối bỗng loé lên ánh sáng lạ
lùng rồi không biết từ đâu bỗng hiện ra trước mắt thiếu nữ
vận vải quý tộc nhưng nhan sắc lại có vẻ ác độc, với vương
miện trên đầu.
- Ngươi đã không giữ lời! - hoàng hậu của ác lực lên tiếng. -
Ngươi không tiêu hết tiền cho chính bản thân, vậy ngươi
không xứng đáng được hưởng kho báu!
Chỉ nói có vậy, cô nàng biến nhanh như lúc xuất hiện. Cả
xe, ngựa và bao đồ đắt tiền anh lính mua được cũng bỗng
dưng biến mất. Anh chàng lính kia lại trở về hình hài cũ, với
trang phục rách rưới, nghèo nàn.
- Cô nàng quả là người xấu bụng nếu chỉ muốn thưởng cho
anh sự ích kỉ - người lính ăn xin bèn lên tiếng. - Tốt hơn cả,
khi vẫn còn sức khoẻ, hãy tìm cho mình công việc lương thiện
mà kiếm sống.
Người lính nghe lời khuyên nhủ chân thành đó. Anh định
cư tại Thành Cổ và làm nghề thủ công. Anh thuê người ăn xin
què tay nhưng thông thái làm việc cho mình.
Không ai còn nghe tới con vịt vàng nữa. Rất có thể dưới
chân dốc Tamka vẫn còn kho báu chờ được khám phá. Nhưng
lấy kho báu đó làm gì, khi cái giá phải trả là trái tim đông lạnh?

Włos, który zmienił serce złodzieja

Od niepamiętnych czasów wisi w kaplicy Baryczków w
warszawskiej farze krucyfiks, słynący z cudów i rozlicznych
łask, których doświadczyli wierni, modlący się u jego stóp. Nic
dziwnego, że wdzięczni ludzie przez całe pokolenia znosili mu w
podzięce dary, często niezmiernie kosztowne, wśród nich złoto i
drogie kamienie.

Od niepamiętnych też czasów, jak w każdym mieście, obok
uczciwych ludzi żyli w Warszawie oczajdusze i złodzieje. A
najbardziej w swoim czasie pośród nich słynął złodziej zwany
Kulawikiem. Wszyscy wiedzieli, czym się zajmuje ale nikomu
nie udało się go postawić przed sądem, sprytny bowiem był i
zręczny nad podziw.

Tenże Kulawik powziął myśl, żeby okraść Chrystusa, od
dawna bowiem nęciły go kosztowności na miarę największych
skarbów.

Jak postanowił – tak zrobił. Wieczorem, kiedy nikogo w
katedrze nie było, Kulawik wszedł cicho i, przyświecając sobie
pochodnią, wyciągnął rękę po dziękczynne dary. Ale niczego nie
zdążył dotknąć, bo uniósł się nad ziemie i nie mógł się w żaden
sposób uwolnić. To ręka figury, rozpiętej na krzyżu, chwyciła go
za jeden włos i podniosła tak, że zręczność ani spryt nie mogły mu pomóc w ucieczce.

Rano tak właśnie znaleźli go pierwsi wierni. Oburzenie
ogarnęło Warszawiaków, świętokradztwo takie zdawało im się
godne najsurowszej kary. Cóż, kiedy nie sposób było uwolnić
Kulawika. Włosa nie dało się przeciąć, przepalić. Znalazł się
ktoś, kto zaproponował, żeby obciąć wobec tego głowę złodzieja
na miejscu, na ołtarzu.

Usłyszawszy to, zawrzał gniewem sędziwy ksiądz i
zawołał wielkim głosem: „Co was opętało? Wszak codziennie
modlicie się słowami: i odpuść nam nasze winy, jako i my
odpuszczamy naszym winowajcom!”.

Zawstydzili się zebrani a wójt powiedział: „Racja,
uwolnijmy go i niech idzie wolny”. W tej chwili rozprostowały się palce figury i Kulawik bez przeszkód stanął na posadzce
świątyni. Natychmiast też padł na kolana i wielkim głosem
prosił Boga o wybaczenie grzechu, który planował i innych,
których się dopuścił.

Od tego dnia stał się Kulawik uczciwym mieszczaninem.
Swoją zręczność i spryt wykorzystywał dla pomocy innym i
dla utrzymania uczciwą pracą rodziny, którą założył. Umarł
jako sędziwy człowiek, otoczony powszechnym szacunkiem.

Skarby, zgromadzone w farze, Warszawa ofiarowała zaś
wieki potem Naczelnikowi Kościuszce dla ratowania Ojczyzny.

Powtarzają ludzie tę historię od setek lat dla nauki, że nie
zemsta, nie prawo, nie sprawiedliwość lecz miłość jest przeciw
złu orężem najpotężniejszym.

Sợi tóc từng lay động trái tim kẻ trộm

Kể từ lâu lắm, tại đền Baryczki tại khu điện thờ
Warszawa có cây thập tự vốn nổi danh bởi những điều kì diệu
từng cứu rỗi con chiên và tất cả những ai chịu cầu nguyện
dưới chân thập tự. Dĩ nhiên người dân quanh đó vô cùng biết
ơn cây thập tự, cả già lẫn trẻ nhất nhất đều lui tới cây thập
tự, mang theo đồ ăn thức uống và châu báu tới cúng dường.
Kể từ lâu lắm, cũng như ở mọi nơi, Warszawa cũng có kẻ
trộm và người bất lương. Một trong những tên trộm khét
tiếng nhất khi đó là Kulawik. Người dân ai cũng biết Kulawik
là ai, làm gì, nhưng không ai đủ sức đưa Kulawik ra toà, vì
Kulawik đầy mưu mẹo và vô cùng khéo léo.
!
Tới một ngày kia, Kulawik có ý nghĩ phải lấy được của
cải của Chúa Trời. Đã từ lâu lắm Kulawik nghĩ phải lấy cho
được vàng bạc châu báu dưới chân thánh giá.
Nghĩ gì làm vậy. Một ngày kia, chờ khi trời tối, khi không
còn ai lui tới điện thờ, Kulawik mò vào điện, một tay cầm nến,
tay kia quơ của. Thế nhưng Kulawik chưa kịp gom báu vật
vào túi thì bỗng bị treo lên lơ lửng mà không cách nào trườn
xuống. Chính cánh tay của bức tượng Chúa Trời trên cây
thập tự nắm lấy sợi tóc của Kulawik mà Kulawik không tài
nào chống cự. Sáng ra, người dân đi lễ bắt được Kulawik đang
bị treo lơ lửng. Ai nấy đều hết sức phẫn nộ bởi Kulawik đã rắp
tâm và cả gan ăn trộm cả đồ cúng viếng. Mọi người nhất quyết
muốn Kulawik phải đền tội. Thế nhưng không ai cắt được sợi
tóc đang treo Kulawik trên không. Ai đó hô to rằng tốt hơn cả
là chặt đầu kẻ trộm ngay trên điện thờ.
Vị linh mục ở đó nghe thấy liền quát lớn: „Ai bảo các
ngươi làm vậy? Có phải hàng ngày các ngươi vẫn khấn cùng
thượng đế: Hãy tha thứ cho con như chúng con tha thứ cho
những kẻ tội đồ!”.
Người dân xung quanh nghe lời trách ẩn tỏ ra vô cùng
xấu hổ. Vị quan trường gần đó nói: „Đúng vậy, chúng ta hãy
thả tên trộm ra”. Đúng lúc đó, cánh tay của bức tượng
Thượng Đế buông ra và Kulawik được thả xuống sàn thờ.
Ngay lập tức, Kulawik quỳ gối và cầu nguyện Chúa Trời tha
thứ tội lấy trộm và xin lỗi những ai từng là nạn nhân của
mình.
Kể từ khi đó Kulawik trở thành người lương thiện, chỉ
dùng trí khôn và sự khéo léo của mình để giúp đỡ người khác
và để làm việc nuôi gia đình. Kulawik chết khi tuổi đã già trong
niềm kính trọng của mọi người. Châu báu dưới chân thánh
đường dạo nào được người dân Warszawa trao cho tướng
Kościuszko khi đất nước lâm nguy thời binh chiến cứu Quốc.

Người đời vẫn ôn lại câu chuyện xưa để nhớ bài học rằng
không phải sự trừng trị, pháp quyền hay công lý mà chính tình
thương mới là mãnh lực lớn nhất để chống lại cái ác.

O ile nie zaznaczono inaczej, treść tej strony objęta jest licencją Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 License