Giáo Hoàng người Ba Lan (3)

Giáo Hoàng và Công Đoàn Độc Lập Tự Chủ „Đoàn Kết”

Bến Việt - SWS (04.01.2010) Văn hóa - Sự kiện ngoạn mục cuối thế kỉ XX - Công Đoàn Độc Lập Tự Chủ „Đoàn Kết” gắn liền với sự hiện diện của Giáo Hoàng Giăng Paul II. Tư duy sâu sắc, đầy nhân bản và lòng yêu nước của Giáo Hoàng đã trở thành động cơ thúc đẩy „Đoàn Kết”.

Không có tự do nếu thiếu Đoàn Kết. Hôm nay cần nói thêm: không có Đoàn Kết nếu thiếu tình thương và nếu thiếu tình thương sẽ thiếu vắng cả tương lai cho con người và dân tộc.

Sự kiện ngoạn mục cuối thế kỉ XX là Công Đoàn Độc Lập Tự Chủ „Đoàn Kết”, gắn liền với sự hiện diện của Giáo Hoàng Giăng Paul II. Tư duy sâu sắc, đầy nhân bản và lòng yêu nước của Giáo Hoàng đã trở thành động cơ thúc đẩy „Đoàn Kết”. Giăng Paul II không chỉ để tâm đến Công Đoàn Đoàn Kết mà còn sánh bước cùng lịch sử công đoàn, tấu tạo ý nghĩa tâm linh và đạo đức từ nơi Công Đoàn Độc Lập Tự Chủ „Đoàn Kết”. Tháng 6 năm 1979 khi lần đầu trở lại Ba Lan với cương vị Giáo Hoàng, lời nói ông phát ra trên Quảng trường Chiến thắng thủ đô Vác-sa-va đã thấm sâu vào lòng dân tộc Ba Lan, khơi dậy cảm xúc mạnh mẽ: „Xin Chúa hãy hiển diện nơi đây. Xin Chúa hãy hiển diện tại đây và tái tạo diện mạo đất này. Mảnh đất này”.

flickr:4243328302


"Không có tự do nếu thiếu Đoàn Kết. Hôm nay cần nói thêm: không có Đoàn Kết nếu thiếu tình thương và nếu thiếu tình thương sẽ thiếu vắng cả tương lai cho con người và dân tộc."

Chuyến công du đầu tiên của Giáo Hoàng về thăm Tổ quốc đã trở thành hiện tượng vô tiền lệ, hợp nhất mọi người Ba Lan. Nhân lần Giáo Hoàng về thăm quê hương, người Ba Lan được nhắc nhở thế nào là „ hòa hợp” và „đoàn kết”, được đánh thức niềm hi vọng vào đổi thay. Giăng Paul II nhìn nhận lịch sử Ba Lan theo tính nhân bản, đưa ra niềm tin mới vào giá trị của thiên chúa giáo. Về sau này, khi phân tích sự xụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu, ông khẳng định sai lầm của chủ nghĩa Mác xít. Nhưng cũng cần lưu ý rằng chỉ riêng sai lầm đó không thể hủy diệt nổi chủ nghĩa cộng sản nếu không có người chịu hoài nghi về nó. Giăng Paul II mang trong mình lòng can đảm hơn thường để tuyên truyền học thuyết nhân bản, cho rằng một cá thể con người không tự hiểu được chính bản thân mình nếu như không gặp được Chúa và đón nhận lòng nhân ái của Chúa. Như vậy, Giăng Paul II khơi nguồn phản bác thuyết Mác-xít vốn vẫn cho rằng tôn giáo là lực lượng không có tính người, còn vô giáo là cần thiết cho nhân loại. Khi nói về lòng nhân hậu Thiên chúa, Giăng Paul II giảng rằng: vô thần làm cho con người mất nhân cách, vô thần là phép thử phản bác lại sự thật cơ bản của con người. Không có lòng tin thì không bày tỏ được bản chất thật sự của con người, mà ngược lại, làm cho con người nghẹt thở và biến dạng.

Giáo Hoàng không chỉ trợ giúp tinh thần trong thời điểm mới thành lập Công Đoàn Độc Lập Tự Chủ „Đoàn Kết” mà còn tiếp tục đóng vai trò vững chắc nâng đỡ Ba Lan khi nơi đây xảy ra nhiều sự kiện sôi sục, thảm hại trong những năm 80.

Trước thời buổi Thiết quân luật (Tình trạng chiến tranh), những người cộng sản cầm quyền từng mang dã tâm kết liễu cuộc cách mạng hòa bình ở Ba Lan và Giáo Hoàng đã có một lần bị ám sát bất thành. Ngày 13 tháng 5 năm 1981, như thường lệ, Giáo hòang đi xe Jeep trắng của mình đến Quảng trường Saint Piere để chào các con chiên. Vào hồi 17 giờ 19 bỗng nghe 5 phát súng nổ, Giáo Hoàng bị thương ở bụng và tay, ngã vào vai thư ký của mình là linh mục Stanisław Dziwisz. Mạng sống Giáo Hoàng vô cùng nguy kịch. Giăng Paul II được đưa ngay tới Bệnh viện Gemelli. Ca phẫu thuật kéo dài 6 tiếng, kết thúc vào hồi 23 giờ 35. Giáo Hoàng luôn tin rằng tại Quảng trường Saint Piere đã có „một bàn tay nổ súng, nhưng bàn tay khác lại chuyển chệch hướng viên đạn”. Giáo Hoàng tin ông thoát chết bởi điều kỳ diệu đã xảy ra bởi sự hiện diện của Mẹ Chúa Fatima. Ngay sau khi ra viện, Giáo Hoàng ngay lập tức tha thứ cho kẻ ám sát mình vốn là người Thổ Nhĩ Kỳ mang tên Ali Agce. Giáo Hoàng đã tới tận nhà tù thăm Ali Agce rồi gọi kẻ ám sát hụt là người anh em. Điều tra của CIA cho thấy chính quyền cộng sản là thế lực đứng sau vụ ám sát. Vào năm 1995, tuần báo „Toscana Oggi” công bố phát lệnh của Bộ Chính trị Đảng cộng sản Liên Xô năm 1979, do Gor-ba-chốp, Su-sôp và các thành viên khác của Bộ chính trị trực tiếp kí: „tận dụng mọi khả năng có được nhằm ngăn chặn xu hướng chính trị mới do Giáo Hoàng người Ba lan khởi xướng. Trong trường hợp bắt buộc, sử dụng các biện pháp khác ngoài biện pháp phản tin và bôi nhọ”. Tài liệu này đã được nhà báo John Kohler phân tích kỹ vào năm 2008.

Điều này cho thấy cộng sản luôn khiếp sợ Giáo Hoàng vốn rất thu hút và thuyết phục. Sau khi Công Đoàn Độc Lập Tự Chủ „Đoàn Kết” bị đưa vào diện bất hợp pháp thì Giáo Hoàng lại càng thêm khăng khít cùng các hoạt động của tổ chức này. Mô hình chung, ông trở thành phát ngôn nhân cho „Đoàn Kết” trên khắp năm châu. „Cha luôn nói về các con và cha nói thay cho các con”, Giáo Hoàng đã nói vậy ở thành phố Gdańsk năm 1987.

Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản là cả một quá trình phức tạp gồm nhiều yếu tố liên kết chặt chẽ với nhau như: đường lối chính trị của Reagan, các thỏa thuận tại Phiên họp An ninh và Hợp tác Châu Âu về Nhân quyền, các hoạt động đối lập dân chủ tại những quốc gia bị độc tài bao phủ, sự suy sụp của hệ thống kinh tế kế hoạch trung ương, và cả các vấn đề nội bộ của Nga và đường lối chính trị của Gor-ba-chốp. Nhưng chắc chắn, các kết cấu giữa những hoạt động của „Đoàn Kết” và đường hướng đạo đức quan điểm do Giăng Paul II truyền bá đóng vai trò chiến lược trong những chuyển đổi đó. Thuyết giáo của Giáo Hoàng làm cho khẩu hiệu „Đoàn Kết” thêm sâu đậm, củng cố cho người Ba Lan tư cách đạo đức. Tuy vậy, tính độc đáo của „Đoàn Kết” là sự liên kết công cuộc bảo vệ công ăn việc làm với công cuộc dành tự do và chăm bẵm văn hóa độc lập. Điều này vô cùng quan trọng, làm nền tảng cho tính cách con người Châu Âu hiện đại. Thâu kết các hoạt động của hai chiều hướng đã làm cho cuộc chiến chống chủ nghĩa cộng sản, giành nền dân chủ trở thành cuộc chiến tìm giá trị, còn những người truyền bá tư tưởng hiện đại là những người có đức tin, mang tâm huyết đạo đức Chúa trời sâu đậm.

Tinh thần yêu nước cũng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động và tiềm thức của Giăng Paul II như tư duy về giá trị con người trong khái niệm tổng hợp. Khi trở lại Ba Lan tự do lần đầu tiên vào năm 1991, Giáo Hoàng nhắc lại lời nói lịch sử của mình từ lần về năm 1979: ”Quảng trường Chiến thắng, năm 1979, là tiếng gọi của vị Giáo Hoàng lúc đó còn trẻ, hôm nay lại muốn nhắc lại lần nũa, nhưng không ở Quảng trường Chiến thắng mà ngay tại Vườn Łazienki, cạnh dinh Belweder, gần Phủ Tổng thống của Cộng hòa Ba Lan, ngay trước mặt vị Tổng thống cùng phu nhân và chính quyền, đại diện Quốc hội và Thượng nghị viện, cùng tất cả các con: Xin Chúa hãy hiển diện nơi đây và tái tạo diện mạo đất này. Mảnh đất này. Mảnh đất Ba Lan, mảnh đất Âu Châu, toàn diện địa cầu… ! […] Cha không bao giờ chối bỏ niềm tin vào Hồn Thánh”.

Bài viết được trích dẫn từ cẩm nang "Ba Lan đặc tính", do Hiệp Hội Tự Do Ngôn Luận, cơ quan đỡ đầu của Bến Việt, thực hiện trong khuôn khổ chương trình „Vác-sa-va Mùa Thu Nhân Loại”, có tài trợ từ Quỹ Liên minh Châu Âu và Ngân sách Nhà nước nhằm hỗ trợ quá trình Hội nhập Công dân các nước thứ Ba.

(còn tiếp)

——

© Bến Việt

O ile nie zaznaczono inaczej, treść tej strony objęta jest licencją Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 License