Warszawa thân yêu (phần 2)

Lê Thanh Hải (07.08.2011) Văn hóa - Theo bức hình chụp sau chiến tranh thì tất cả những gì xung quanh bức tượng vác thánh giá trên phố Nowy Swiat, gần bức tượng ông Mikolaj Kopernik ngồi trước tòa nhà Viện hàn lâm khoa học Ba Lan, chỉ là gạch vụn.

đọc thêm:
Giới thiệu Warszawa sau 20 năm yêu
Phần 1 - Lời tựa và Những chuyến bay sáng

2. Những chuyến xe đêm

Warszawa là thành phố mới. Một loạt các công trình mọc lên sau năm 2000, mang dáng dấp hậu hiện đại. Hệ thống giao thông [15], cơ sở hạ tầng và hầu như toàn bộ qui hoạch thành phố chỉ mới được xây dựng từ thập niên 1970s. Mà ngay cả những tòa nhà cổ kính hay thậm chí khu vực gọi là Thành Cổ cũng mới chỉ được xây từ sau ngày kết thúc cuộc chiến thế giới lần thứ hai. Vua Zygmunt đệ tam Waza [16] (1566-1632) xây thành, mở rộng chợ, cung điện và nhà thờ từ thế kỷ 16 nhưng sau 1945 toàn bộ Warszawa coi như chỉ còn là một đống đổ nát. Kiều bào từ nước ngoài góp vàng, giúp tiền, nữ trang, tài sản để trong nước có quĩ xây lại từng mảnh tường, từng ô cửa sổ sao cho giống hệt như trước. Cũng nhờ vậy mà ngành phục chế và kiến trúc giả cổ của Ba Lan sau này trở thành chuyên gia hàng đầu thế giới. Năm 2008 người ta lại tiếp tục sửa chữa và lát gạch thêm con đường Krakowskie Przedmiescie băng ngang cổng trường đại học tổng hợp, chạy thẳng từ cung vua đến Viện hàn lâm khoa học, nối tiếp với con đường đi dạo Nowy Swiat. Nếu là du khách lần đầu đến Warszawa, bạn sẽ rất khó phân biệt được đâu là những gì mới làm năm 2008, đâu là phần công trình năm 1945, và đâu là những gì còn sót lại từ 100, 200 và 300 năm trước. Theo bức hình chụp sau chiến tranh thì tất cả những gì xung quanh bức tượng vác thánh giá trên phố Nowy Swiat, gần bức tượng ông Mikolaj Kopernik [17] (1473-1543) ngồi trước tòa nhà Viện hàn lâm khoa học Ba Lan, chỉ là gạch vụn.

Tâm điểm của thành phố - thủ đô Warszawa là một tòa nhà bằng đá cao 42 tầng, nay được lắp thêm cột ăn ten và đồng hồ, tên chính thức là Cung văn hóa và khoa học – Palac Kultury i Nauki. Khi mới xây xong, nó đứng sừng sững, nổi hẳn lên giữa thủ đô, không chỉ từ góc nào bạn cũng có thể định hướng để đi bộ, mà ngay cả từ các con đường liên tỉnh đoạn vào cửa ngõ Warszawa, cách trung tâm cả chục cây số, không hiểu tình cờ hay có tính toán mà lái xe đều sẽ nhìn thấy tòa nhà ngay trước mặt. Tòa nhà chọc trời gần như duy nhất này cũng chỉ mới xuất hiện sau cuộc chiến thế giới lần thứ hai, là món quà của ông anh cả Liên Xô tặng cho đàn em Ba Lan ,bằng cả công sức lao động của tù binh Đức nữa. Đàn anh từng kể những người tù binh đó sống trong khu lán trại tạm bợ bằng gỗ ở Jelonki [18], mà sau ngày họ rút đi thì được chuyển thành ký túc xá cho sinh viên đại học tổng hợp Warszawa. Cho nên, đúng là "ăn như tu, ở như tù, nói như lãnh tụ" cũng có thể áp dụng cho sinh viên Ba Lan. Ký túc xá của trường bách khoa Warszawa ở quảng trường mang tên tổng thống Gabriel Narutowicz [19] (1865-1922) mà tôi ở thời sinh viên trước đó cũng từng là một nhà tù. Thủ tướng từ đảng nông dân Waldemar Pawlak [20] từng sống ở đây thời sinh viên, và sau này khi lên chức ông đã chi ngân sách xây tặng đám đàn em bọn tôi một cái hồ bơi nhỏ dễ thương dưới tầng hầm. Sinh viên ở Ba Lan rất được chiều chuộng, giảm nửa vé xe buýt và xe lửa, thỉnh thoảng còn được cảnh sát giảm hoặc miễn phạt khi vi phạm giao thông nữa.

Warszawa là một trong số ít những thành phố trên thế giới có xe buýt đêm, và được thiết kế rất tiện lợi cho những ai sử dụng hệ thống giao thông công cộng. Tất cả các tuyến xe buýt hầu hết đều bắt chéo quanh khu vực Centrum, bao quanh tòa tháp "Liên Xô". Tàu điện và tàu điện ngầm cũng vậy. Nhưng thú vị nhất là những chuyến xe đêm. Cứ nửa tiếng lại có một chuyến. Tất cả các tuyến đường đều đổ về một chỗ cùng lúc. Người chạy nhốn nháo, râm ran hỏi đường để chuyển xe. Ba phút náo loạn. Thế rồi bỗng tiếng cửa đóng rầm rập, tiếng xe rồ ga tỏa ngược ra khắp các ngả, để lại bóng đêm tĩnh lặng với ngọn đèn vàng le lói và những kẻ lỡ xe. Thời sinh viên thỉnh thoảng đi chơi về muộn tôi cũng bắt xe buýt đêm, và có hôm lao đúng lên một chiếc đi hướng khác, để rồi ngồi trên xe làm một chuyến sight seeing Warsaw by-night luôn. Bây giờ bến xe đêm đã chuyển vào sát nhà ga xe lửa. Số hiệu cũng hơi khác, chắc tuyến đường cũng khác chút. Và không còn những chiếc xe buýt như ngày xưa, nên cảm giác chắc cũng khác. Cho nên tôi cũng chưa muốn thử để suy nghĩ khỏi bị bắt phải so sánh hai cảm khác giác nhau đó.

Nhưng cảm giác khi ngồi trên những chiếc xe buýt hôm nay rõ ràng là có khác 20 năm trước. Xe bây giờ của Đức, Mercedes sản xuất. Gầm thấp, không phải bước hai bậc thang mới trèo được lên như ngày xưa. Hệ thống cửa tự động êm hơn. Bên trong có máy lạnh vào mùa hè, và tất nhiên vẫn sưởi vào mùa đông như trước. Nhưng ghế ngồi không êm ái để có thể thoải mái thưởng thức, ngồi ngắm cảnh cả giờ đồng hồ trên xe, như những chiếc Ikarus của Tiệp Khắc sản xuất, mà bây giờ phải khó lắm mới bắt gặp trên đường. Cũng như những chiếc xe Maluch, tức là Fiat 125 theo mẫu thiết kế của Ý do Ba Lan sản xuất, mà nghĩa dịch sang tiếng Việt có nghĩa là Thằng Bé Con. Thời kinh tế thị trường, trên đường đủ mọi nhãn và đời xe khác nhau, nhưng tìm đỏ mắt mới thấy một chiếc Maluch, loại xe hầu như là duy nhất trên đường phố Warszawa cách đây 20 năm.

Ông tài xế taxi bật cười khi tôi chia sẻ nhận xét đó. Hai chữ Maluch khiến ông nhớ tới một thời mà xe cũ mắc hơn xe mới. Đơn giản chỉ vì là xe cũ bán ngoài chợ đen, còn xe mới chỉ có ai được tiêu chuẩn mới có quyền mua theo giá nhà nước qui định. Anh bỏ tiền mua một chiếc xe. Phóng vòng vèo đã đời vài năm. Xong đem ra chợ bán. Không những thu hồi đủ vốn mà còn lãi to nữa. Thiệt là thiên đường. Cho nên không ít người vẫn nhắc tới thời tổng bí thư Edward Gierek [21] (1913-2001), vốn là đảng viên cộng sản bên Pháp, vừa về nắm quyền là cho xây ngay hàng loạt con đường cao tốc mà nay vẫn đang là hệ thống đường chính của Warszawa và cả Ba Lan, hợp tác với Fiat mở nhà máy ở Ba Lan, xây nhà ga xe lửa thuộc loại hiện đại nhất châu Âu thời bấy giờ, và thêm cả tòa nhà kính làm khách sạn Marriott nữa (tất nhiên là để lại cho đất nước Ba Lan một món nợ lớn sau này cứ phải è cổ trả dần cho các nước phương Tây). Một anh bạn già người Việt kể với tôi kỷ niệm đi kiếm tiền mùa hè thời sinh viên những năm 1970s. Cứ đến giờ, vào công trình điểm danh, làm lăng quăng rồi về, đúng tác phong cộng sản chủ nghĩa: làm bao nhiêu thì làm, hưởng bao nhiêu cứ hưởng. Nhưng cái công trình vang bóng một thời đó cũng là biểu tượng của sự giàu sang phú quí đối với bọn sinh viên chúng tôi trong thập niên 1990s: ước gì có tiền ăn buffet ở tầng hai và uống cà phê ngắm Warszawa về đêm ở tầng 40. Một số chú bác lớn tuổi thì chắc còn muốn hưởng thụ thêm một thứ mơ ước nữa: các cô gái Ba Lan đứng mời khách làng chơi trên con đường khuất sau lùm cây ngay cạnh khách sạn, mà nay thay bằng các cô gái Ukraina, Bulgari hay Rumani.

Nhưng thời cộng sản và kinh tế chỉ đạo trung ương không chỉ toàn màu hồng. Ông tài xế taxi kể tôi nghe câu chuyện về một anh chàng buôn chai lọ đồng nát. Nhà nước thu mua vỏ chai sữa với giá 1 đồng, đổ sữa vào bán với giá 3 đồng. Dân chúng mua sữa về uống hết, lại đem ra bán lại với giá 1 đồng. Nhưng có anh chàng nọ, có sáng kiến giúp nhà máy sữa giải quyết lô hàng tồn đọng hàng chục ngàn chai sữa bị hỏng. Anh mua mỗi chai với giá 0,5 đồng, đem về súc rửa, rồi cũng đem bán lại cho điểm thu mua với giá 1 đồng, và kiếm lời vài chục ngàn đồng. Thật quá thông minh, một tay kinh doanh giỏi, tôi buột miệng khen. Không - không. Ông tài xế lắc đầu. Anh chàng đó bị công an kinh tế bắt và cho đi tù 3 năm. Thật buồn cười đến chảy nước mắt. Và không chỉ có nước mắt. Một thời người dân Ba Lan đói vàng mắt vì nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trục trặc sao đó, không có đến cả thịt mà ăn. Kiều dân Ba Lan ở nước ngoài lại phải chở một tàu gà Mỹ về cứu đói.

Ông thầy tôi, giáo sư Marek Siemek từng kể chuyện nhờ nghiên cứu triết học Mác mà thoát nạn đói. Vốn là giáo sư, nên ông có tiêu chuẩn mua xe Maluch, và có hộ chiếu để đi họp các thể loại hội nghị ở nước ngoài. Nhờ là giáo sư chuyên nghiên cứu và biết tiếng Đức nên ông phát hiện thấy sách Tư bản luận của Mác bán ở Áo rẻ hơn Đông Đức, vì chính chính phủ Đông Đức tài trợ để quảng bá chủ nghĩa cộng sản sang bên phe tư bản. Thế là thỉnh thoảng ông lại chở một xe sách Mác-xít do Đông Đức in, từ Áo về Đông Đức, bán lại cho các đồng nghiệp ở Đông Đức để ăn không phải chút ít mà là rất nhiều tiền chênh lệch. Giá mấy quyển sách bán bên Áo gần như là cho không. Chỉ có mỗi một phiền phức là lần nào qua cửa khẩu cũng phải mất rất nhiều thời gian, vì các anh chàng hải quan Đông Đức không hiểu tại sao "thằng cha" này lại "chở củi về rừng", nên phải lật ra xem và đọc kỹ từng quyển một. Và người Ba Lan ai cũng có một cách "cứu đói' riêng cho mình và gia đình kiểu như vậy. Không ít người Việt cũng thế và nay trở thành triệu phú ở Ba Lan. Nhưng chắc chắn câu chuyện do chính họ kể sẽ hay hơn tôi kể lại nhiều. Một phần cuộc sống đó từng được tôi dùng để xây dựng tiểu thuyết Cơn Mơ Trong Tuyết, NXB Văn Nghệ xuất bản tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2008.

Tôi chỉ nhớ một chuyện từng được nghe, tại đang bàn chuyện xe cộ, giao thông, đi lại, là chuyện mà có người hay gọi là "chăn thẻ đỏ". Bữa đó là một ngày mùa thu 1989, tôi vừa đến Warszawa hôm trước, được nhờ hôm sau ra sân bay đón một người từ Nga sang đưa về nhà mà tôi cũng đang ở nhờ. Gặp được người, đang dáo dác tìm đường ra bến xe buýt thì một anh Việt Nam đã xịch chiếc xe maluch gần bên, hỏi có về thì anh cho đi nhờ. Trên đường anh đã kịp biết vị khách kia có đem theo vào chục cái áo gió trong túi và họ cũng kịp tiền trao cháo múc ngay khi xe vừa về đến trước cửa nhà. Lần đó thì anh ta giải thích là ra ga đón thằng bạn, nhưng nó bị lỡ chuyến bay sao đó mà không thấy qua. Thời đó chưa có điện thoại cầm tay, và điện thoại quốc tế giá cũng chả rẻ như bây giờ. Sau này tôi có tình cờ gặp lại và anh ta cũng truyền cho cái nghề gọi là "chăn thẻ đỏ". Tức là ra sân bay và ga xe lửa vào đúng giờ có chuyến từ Liên Xô sang. Thấy ai chưa có người đón thì làm quen để xem có hàng gì trao đổi không, và tuyệt nhất là thẻ đỏ - thẻ xanh, tức là hai loại hộ chiếu ít hoặc không bị hải quan kiểm soát. Nhà thơ đi dự hội nghị, muốn tạt qua Ba Lan ngắm rừng bạch dương. Cán bộ khoa học đi dự hội thảo, muốn lượn sang Ba Lan để tranh thủ đánh quả kiếm tiền mua quà cho con, hay thậm chí cả cơ quan. Bọn sinh viên rỗi hơi đi các nước du lịch như tôi. Hạng kém thì cho ngủ nhờ nhà. Hạng sang thì đẩy vào khách sạn Vera, cho ăn chơi, tham quan, gái gú, rồi nhờ cầm gói tiền hay túi hàng gì đấy qua bên kia. Chả bao nhiêu so với chuyện làm ăn bây giờ. Nhưng thời đó bấy nhiêu thôi đã là khủng khiếp lắm rồi. Sau này thì tiếp tục vòng xương, tem cốc, đồng hồ, quần bò, áo bay, áo gió, áo phông, máy tính, đồ thể thao, giày, hàng Tàu, hàng Thổ… thôi thì đủ mọi loại hình "cứu đói" đã được người Việt ở Ba Lan khôn ngoan phát hiện và thực hiện, phát triển. Trong bức tranh thịnh vượng của Warszawa ngày hôm nay chắc chắn có không ít đóng góp của người Việt Nam suốt ít nhất là 20 năm qua. Nhưng so với những nước như Anh hay Mỹ, thì có vẻ chính quyền Ba Lan đối xử với họ trong chuyện giấy tờ không được cân xứng cho lắm.


Chú thích:
(15) Có thể truy cập bản đồ thành phố tại địa chỉ www.warszawa.mapamiasta.info hoặc trên Google ở địa chỉ www.warsaw-life.com/map/map.php. Toàn bộ hệ thống giờ xe và tramwaj tại các bến trong t hành phố có thể truy cập bằng tiếng Anh trên trang mạng của công ty giao thông thủ đô ZTM www.ztm.waw.pl. Vé xe có thể mua dễ dàng tại các quầy sách báo trên phố có dán ký hiệu ZTM. Trong các trường hợp chỉ mua vé một chặng và có sẵn tiền lẻ thì có thể hỏi mua ở chỗ người lái xe/tàu.
(16) Tượng của ông cầm quyền trượng hình thánh giá được con trai dựng ở khu thành cổ và nay là điểm hẹn của các đoàn du lịch khi đến Warszawa. Từ trạm xe buýt 175 có thể nhìn thấy ngay bức tượng đứng trên cột cao.
(17) Tên tiếng Latin là Nicolaus Copernicus, là nhà thiên văn học nổi tiếng thời Phục hưng đã mô tả hệ mặt trời như các hành tinh quanh quanh Mặt trời, thay thế quan điểm trước đây coi các ngôi sao là quay quanh Trái đất. Ông sinh ra ở Torun trên đất Ba Lan. Sau lưng tượng là toà nhà Viện hàn lâm khoa học Ba Lan, đi thẳng vào, phải là quầy bán sách, cạnh đó là thang máy để đi thẳng lên tầng 3 là khu bán cà phê và thức ăn trưa, thường là điểm hẹn của giới khoa học tại Warszawa.
(18)Sau lần xuất bản trước có một bạn sinh viên có lẽ từng sống ở Jelonki nằng nặc bắt tôi phải đưa ra bằng chứng hoặc thay đổi nội dung đoạn này. Tôi giữ nguyên tắc viết đúng suy nghĩ và những gì mình đã nghe, bổ sung thêm các chi tiết mà anh bạn đó cung cấp, rằng trang Wikipedia tại thời điểm đó nói rằng công trình do công nhân Liên Xô xây dựng, và khu nhà gỗ ở Jelonki rất đẹp, xây theo phong cách Nga. Với bản thân tôi thì nó giống khu trại tù binh thời đệ nhị thế chiến hay xem trên phim, nhà gỗ, tối mùa đông muốn đi toilet thì phải mặc áo khoác ra khỏi nhà, bước trong tuyết dày hoặc trơn. Cũng xin nhắc lại đây không phải là sách sử hay tài liệu giới thiệu chính thức về Warszawa hay Ba Lan.
(19) Ông là giáo sư ngành điện và nước tại đại học Zurich, về Ba Lan làm bộ trưởng cầu đường, bộ trưởng ngoại giao và tổng thống đầu tiên của nền cộng hòa hai.
(20) Giữ chức vụ thủ tướng lần đầu năm 1992 và lần hai vào giai đoạn 1993-1995, là thủ tướng trẻ nhất Ba Lan (sinh năm 1959) từ trước đến nay. Trong chính phủ năm 2007 ông giữ chức bộ trưởng kinh tế và phó thủ tướng. Ông tốt nghiệp đại học bách khoa Warszawa năm 1984 và về dạy máy tính ở quê, tham gia hoạt động trong khối nông dân của đảng cộng sản Ba Lan, lên làm chủ tịch đảng nông dân năm 1991.
(21)Ông bị trục xuất khỏi nước Pháp năm 1931 do tổ chức đình công, sang Bỉ năm 1934 ông tiếp tục tham gia đảng cộng sản Bỉ và làm việc ở mỏ than, trở về Ba Lan và được bầu vào quốc hội năm 1957, lên thay tổng bí thư đảng cộng sản Ba Lan Wladyslaw Gomulka cuối thập niên 1970., tận dụng quan hệ tốt với tổng thống Pháp Valery Giscard d’Estaing và thủ tướng Đức Helmut Schmidt cùng thời để vay vốn phương Tây phát triển Ba Lan.

Lê Thanh Hải

Lê Thanh Hải, sinh ngày 9/12/1971 tại Hà Nội, du học sinh tại Ba Lan, hiện sống và làm việc tại London. Thạc sĩ Tự động học, Quản trị kinh doanh và Nhân học. Lê Thanh Hải còn là tác giả các cuốn: Tiểu thuyết Cơn mơ trong tuyết, sách khoa học Khảo cổ bình dân Nam Bộ (đồng tác giả với tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu) và sách du ký đầu tiên ở Việt Nam "Warszawa thân yêu". Lê Thanh Hải là sáng lập và biên tập viên tờ "Tia Sáng" năm 1995 tiền thân của "Phương Đông" những năm 1996 - 2002, vốn là cơ quan truyền thông độc lập đầu tiên của người Việt tại Ba Lan.

Bến Việt xin tiếp tục giới thiệu toàn bộ cuốn sách sắp tái bản lần 2 "Warszawa thân yêu" của Lê Thanh Hải trong những trang sau.

O ile nie zaznaczono inaczej, treść tej strony objęta jest licencją Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 License