Warszawa thân yêu- Sękacz,chleb và flaki (phần 3)

Lê Thanh Hải (14.08.2011) Văn hóa - Nếu kể ra thì Ba Lan có đủ hết mọi loại nông sản. Mảnh đất này bằng phẳng, khắp nơi đồng ruộng, đến nỗi tiếng Anh mà còn gọi là Pole-Land mà. Đồng cỏ bát ngát, bò ăn mặc sức và cho sữa… Táo ở Grójec đến mùa tấp nập tập kết về kho nông sản, lưu trữ đủ dùng cho cả năm, mà vẫn còn thừa để chế biến thành món nước táo nổi tiếng khắp châu Âu.

đọc thêm:
Giới thiệu Warszawa sau 20 năm yêu
Phần 1 - Lời tựa và Những chuyến bay sáng
Phần 2 - Những chuyến xe đêm

6041150182


Ảnh OnTheNet Một trong các ảnh sách du kí

Đêm hè trời mát dịu. Tôi ngồi trong phòng nhìn ra phía trung tâm, chính là tòa nhà Cung văn hóa và khoa học với cái đồng hồ to, báo giờ cho cả thành phố, và bên cạnh là tòa nhà kính khách sạn Marriott nhấp nháy bảng hiệu quảng cáo. Nhắp miếng rượu hồng - rose của Ý với miếng bánh ngọt vừa mua hồi chiều. Sekacz được làm rất công phu. Quết bột quanh trục rồi nướng chín, xong lại quết bột nướng một lớp nữa, rồi lại nữa, cứ như thế cho đến khi thành hình chiếc bánh to thì cắt ra thành từng mảnh nhỏ để bán. Giống như chả quế ở miền Trung Việt Nam, hay cái máy nướng Kebab của người Thổ Nhĩ Kỳ. Chắc chắn là những thứ đồ ăn này có liên quan đến nhau, vì cùng một kỹ thuật nướng, đều dính líu văn hóa Ả rập, mà người Pháp từng đem về cùng với Nghìn lẻ một đêm, rồi rất có thể đã đem sang Ba Lan này cùng những chiếc mái cửa sổ theo kiểu hình cong chiếc nón Napoleon. Ẩm thực vốn cũng là một thứ văn hóa vật thể, có khả năng ghi lại trên nó và trong nó cả không gian địa lý lẫn thời gian lịch sử. Ba Lan đúng là có rất nhiều món ăn du nhập từ Pháp, nhất là các loại bánh ngọt: eklerka - như bánh su kem ở Việt Nam, ngoài phủ sô-cô-la, napoleonka - bánh bột cán gấp nhiều lớp kẹp bột đậu xanh và kem ở giữa, petit beurre - ngon hơn hàng hiệu của LU. Bánh Ba Lan không thơm phưng phức như bánh Pháp, kem sữa lộng lẫy như bánh Ý, sô-cô-la tràn ngập như Đức và Thụy Sĩ, mà lưu chân thực khách bằng vị ngọt vừa đúng và chất liệu quyến luyến của bột mì, dễ trở thành một thứ gây nghiện.

Ba Lan không có bánh mì baggette thơm lừng cả góc phố để mà bạn có thể đang rảo bước một buổi sớm ở khu Latin của Paris phải quay ngoặt lại xếp hàng chờ ổ bánh mới ra lò. Nhưng Ba Lan có thứ bánh mì chỉ đơn giản gọi là Chleb, tức là bánh mì, nhưng cái vị đặc biệt của bột mì trộn lẫn trắng đen, vo tròn, không nhiều bột nổi, sẽ khiến bạn đã ăn quen rồi thì "dù có đi [khắp] bốn phương trời, lòng vẫn nhớ về" một mẩu bánh mì Ba Lan. Ở Krakow người ta pha nhiều lúa mạch đen hơn, và nướng thành ổ bánh hình vuông, còn ngon hơn loại bánh "mậu dịch" như ở Warszawa. Thời nay người ta cũng làm bánh từ bột trắng để ăn súp, hay cho thêm mè, hạt hướng dương và các loại phụ gia, nhưng trong cả một dãy kệ bánh mì các loại, các ổ bánh mì truyền thống vẫn luôn hấp dẫn tôi nhất. Lần nào về Ba Lan cũng phải mua ăn cho đã thèm. Tất nhiên kèm theo phải là các loại xúc xích thịt nguội nữa. Người Ba Lan có thời qua Ý làm việc rất nhiều, và sau đó là Đức, cho nên đem về rất nhiều kỹ thuật chế biến thịt rất ngon: kabanos từ thịt gà - một thứ lạp xưởng có thể ăn sống nhắm rượu, kielbasa - xúc xích truyền thống giống wurst của Đức mà có thể luộc, chiên hoặc nướng để chấm mù tạt, ăn với bánh mì và dưa chuột muối giòn, các loại thịt xông khói. Bữa ăn chiều của các gia đình rất đơn giản: thịt nguội, bánh mì, ít rau củ, món súp nước uống bằng cốc và một tách trà chanh. Một cô bạn ở Hà Nội lên mạng tâm sự, xa Ba Lan chỉ chỉ thèm và nhớ lát chanh vàng để uống trà mà thỉnh thoảng bạn bè lại nhớ xách về cho. Buổi trưa người ta hay ăn nóng mà món thường gặp nhất là Kotlet Schabowy, tức là thịt thăn bọc bột chiên, ăn với khoai tây nghiền, và bắp cải hay cà rốt trộn. Các tiệm ăn Việt Nam cho người Ba Lan bán rất chạy vào buổi trưa là nhờ thói quen ăn nóng này. Loại quán tự phục vụ rất phổ biến. Bạn có thể thấy cô Tây phụ bếp ở quán Việt Nam gần bảo tàng Warszawa Đồng khởi chạy ra gọi khách vào bưng chảo đầu bò món "Kurczak Lúc Lắc" phát âm không khác gì người Việt Nam. Cũng có khá nhiều người Ba Lan nói tiếng Việt rất giỏi, với chất giọng … Nghệ An, như một anh bạn tôi vừa quen ở tiệm Internet gọi điện giá rẻ về Việt Nam ở khu trung tâm.

Quay lại chuyện ăn uống, buổi sáng người Ba Lan hay chiên trứng với thịt nguội còn sót lại từ đêm hôm trước, quậy nát ra thành món gọi là jajecznica. Một số người ăn theo kiểu Continental Breakfast tức là bánh mì với bơ, pho mai và mứt, hoặc sữa với ngũ cốc theo kiểu Mỹ. Có một món mà lúc nào trong ngày bạn cũng có thể ăn, và bán cả trong nhà hàng sang trọng lẫn quán bình dân góc đường: Flaki. Đó là món súp nấu bằng xách bò. Nhà thơ Tạ Minh Châu từng có thời gian học ở Ba Lan và sau đó quay lại làm đại sứ. Ông bà đại sứ trên xe hơi từ sân bay về đến ngay bờ sông Wisla đã kêu tài xế tắp đại vô một cái quán cóc bên đường ăn mỗi người một chén flaki cho đã thèm. Nếu bạn không thích loại súp có nhiều thứ bên trong thì có thể ăn Zurek, là súp sữa chua nấu với một loại cỏ thơm thường dùng để nấu rượu vodka, bên dưới đáy có một miếng trứng luộc, cạnh vài miếng xúc xích, và nổi lên trên mặt là vụn bánh mì phơi khô chiên bơ trước khi cho vào đĩa. Ngày xưa ở Anh chưa có nhiều người Ba Lan tôi phải về đến Ba Lan mới có thể ăn cho đã thèm những món ăn dân dã đó, nhưng nay thì không chỉ cửa hàng Ba Lan xuất hiện khắp mọi nơi ở London mà ngay các mạng lưới siêu thị bình dân của Anh cũng đầy đồ ăn Ba Lan.

Nói chuyện du nhập đồ ăn và mạng lưới phân phối, chắc bạn sẽ bất ngờ nếu biết rằng hệ thống McDonald ở Ba Lan từng có thời gian thử làm món nem - chả giò để giành khách nhưng không đấu nổi hệ thống quán Việt Nam ở Warszawa. Còn mì ăn liền thì khỏi nói - món ăn khoái khẩu của họ, vì người Việt từ lâu đã đầu tư xây dựng nhà máy mì Vifon và một số nhãn hiệu khác nữa. Sẵn bột mì, sẵn thịt gà, thì có khó gì mà không sản xuất được gói mì ăn liền Vifon chứ, thậm chí còn Gà ngũ vị hương - Kurczak w Pieciu Smaków nữa. Đang ở giữa Ba Lan mà thèm mì ăn liền bạn cứ vào bất kỳ siêu thị siêu thị nào hầu như cũng mua được mì ăn liền cả, làm tại vùng Gdansk ở phía bắc, hoặc bên Ukraina chở qua. Các thứ đồ ăn mà người Việt thích thì cũng có ngay người phục vụ: tiết canh, lòng lợn, dồi trường ̣(tràng), giò thủ… lúc nào cũng có. Nếu không có bạn cứ gọi điện cho nhà hàng Vân Bỉnh 0601-296-176, có người đem đến tận nhà hay khách sạn ngay. Rau muống và giá có người trồng, đậu hũ (phụ) có người làm, mắm tôm và tương ợt có người chuyên lo chuyện nhập khẩu. Trong khu trung tâm thành phố cũng có rất nhiều nhà hàng Việt Nam như Hạ Long, Đông Nam, Quê Hương… và vô số các quán ăn Việt Nam mà phở và cơm là hai thứ không bao giờ thiếu trong thực đơn cả (các quán được nêu tên có đánh dấu trong sơ đồ kèm theo, nhà hàng Đông Nam còn có khu mát-xa Thái).

Nhưng ngày xưa thì chưa được như vậy, vì ít người Việt, và người ta cũng chưa đủ giàu để nghĩ đến chuyện ăn ngon mặc đẹp. Còn nhớ thời sinh viên tôi hay phải đón nhiều đoàn công tác sang, đi làm phiên dịch hay đưa đoàn đi chơi để kiếm thêm tiền. Bữa đó mua sẵn đầy một tủ lạnh toàn thịt bò, hành tây và cải Bắc kinh (cải thảo Đà Lạt), là những thứ bên này rất sắn, nhưng lại có thể xếp vào hạng cao cấp ở Việt Nam. Sẵn cũng ghé sân vận động là khu chợ của người Việt nay đã đóng cửa, nhưng hồi đó là nơi tụ tập duy nhất và cửa hàng duy nhất bán đồ châu Á, mua một chai nước mắm, và nghĩ mãi, thèm lắm mới mua bó rau muống về ăn. Mười cọng rau, mà tới mấy đô-la Mỹ, một số tiền nhiều vô kể lúc bấy giờ, đủ mua tất cả thịt bò, hành tây và cải trong tủ lạnh. Đón đoàn lúc sáng sớm, khách sạn tới trưa mới được nhận phòng. Buổi sáng phải đi học nên tôi đưa mọi người về nhà nghỉ, chỉ chỗ gạo, thịt và rau để có đói thì họ tự nấu ăn. Khi quay về thì mọi người đã ăn xong, thịt bò, hành tây, cải thảo còn nguyên, chỉ mất bó rau muống và một quả trứng. Một chị trong đoàn giải thích rất vô tư, luộc rau chấm nước mắm dằm trứng cho rẻ em ạ, không phí phạm của sinh viên bọn em. Vừa tức, vừa buồn cười, vừa không dám giải thích vì sợ mọi người buồn. Chuyện đó cứ theo tôi mãi đến tận hôm nay, khi một bó rau muống chở thẳng từ Thái Lan qua bằng máy bay không còn là cái gì đó vượt quá khả năng túi tiền nữa rồi. Nhưng mỗi lần ăn vẫn nhớ cái thời chi tiêu một tháng chỉ được tối đa là 100USD, mà vậy đã là sang lắm so với bạn bè, chỉ được hơi quá 50USD một ít thôi, chỉ hơn mức nghèo đói của Liên hiệp quốc qui định một chút xíu - 1USD/ngày.

Hình như khi đói người ta mới thấy đồ ăn ngon, chứ còn giàu lên rồi thì… Mà cũng không phải, có lẽ thế này đúng hơn: khi nghèo thích ăn đồ của người giàu, còn khi giàu thì thích ăn đồ của người nghèo. Dân nghèo Ba Lan còn một món ăn nữa mà bạn cần phải nếm thử: Bigos. Đến mùa nông dân thu hoạch được rất nhiều bắp cải, họ muối chua rồi tới mùa đông cho vô nồi nấu, bỏ thêm cá, xúc xích và các loại thịt vụn thừa thãi vô, và gia vị. Cứ nấu vậy rồi ăn với bánh mì, tận dụng hơi nóng lò sưởi hay bếp suốt ngày tháng. Cũng khá giống với món súp bắp cải mà Louis de Funes (1914-1983) nấu cho anh chàng người ngoài hành tinh thường ghé hàng đêm trong bộ phim hài nổi tiếng của Pháp mà rất nhiều người Việt Nam từng xem. Món này các vị thích đồ ăn healthy chắc chắn sẽ mê. À, còn những ai thích ăn cá thì có thể thử món cá ngâm dầu dấm, cũng rất ngon. Cá chép mùa đông cũng thật tuyệt vời, sẵn lá thì là vốn là loại cây mọc sẵn trên đất này.

Nếu kể ra thì Ba Lan có đủ hết mọi loại nông sản. Mảnh đất này bằng phẳng, khắp nơi đồng ruộng, đến nỗi tiếng Anh mà còn gọi là Pole-Land mà. Đồng cỏ bát ngát, bò ăn mặc sức và cho sữa, mà một ít sữa dư xuất sang Việt Nam đã thừa cung cấp cho nhu cầu của 80 triệu khách hàng của Vinamilk. Táo ở Grójec đến mùa tấp nập tập kết về kho nông sản, lưu trữ đủ dùng cho cả năm, mà vẫn còn thừa để chế biến thành món nước táo nổi tiếng khắp châu Âu. Ba Lan cũng còn nhiều khu rừng bảo tồn của EU, mà những nơi được phép đi săn thì rất sẵn heo rừng, nai và thỏ, cùng các loại chim đặc sản. Trái cây thì mùa nào thứ nấy. Tôi về Ba Lan đợt này đúng mùa czeresnia - một thứ trái cây giống seri nhưng ngọt. Rồi có mùa mận (Đà Lạt), dâu, đào, lê… Mùa xuân hoa nở trong vườn đào trước đợt kết trái, đẹp rực rỡ còn hơn làng đào cảnh Nhật Tân nhiều. Những bụi lipa màu vàng bên lề đường từng mê hoặc nhà thơ - dịch giả Lê Bá Thự.

Tôi thì thích nhất những bó hoa hình quả chuông, nho nhỏ, thường bán vào mùa hè, mùi thơm dễ chịu, có thể để trong phòng nhiều tuần lễ. Hoa do những người nông dân cắt trong vườn nhà mình, đem thẳng vào thủ đô đứng bán gần các tuyến phố nhiều người đi lại, cho nên chả bao giờ được ghi tên và bày trên kệ. Nên tôi nhớ rồi lại quên mất tên [22] của nó rất nhiều lần, vào mỗi mùa hè. Mùa thu có hoa tulip, và mùa đông thì đặc biệt là hoa tuyết. Không phải tuyết rơi lúc nào cũng thành hoa đâu, mà đa số là vụn nát, bám nhau thành từng cục to quất vào mặt người đi đường. Nhưng có những lúc tuyết rơi nhẹ nhàng, heo hắt cùng ngọn đèn được, bay nhạt nhoà cùng ánh sáng ban ngày khuất ánh mặt trời. Đó là lúc bạn sẽ gặp hoa tuyết. Xòe bàn tay ra. Tinh thể nước bám vào nhau theo hình lục giác, nhiều mẫu dáng ngẫu nhiên. Rơi xuống tay bạn, rồi nhanh chóng tan ra vì hơi ấm cơ thể. Rồi lại một bông hoa tuyết nữa rơi xuống. Bạn có thể đứng ngắm cả giờ liền, bất động ngoài trời, hay dán trán vào cửa kính.


Chú thích:
(22) Tiếng Việt cũng gọi là hoa Chuông, mà có người cũng gọi là hoa linh lan – quốc hoa của Phần Lan. Hoa nở trong tháng Năm cho nên cũng có các tên tiếng Anh như là May Lily, May Bells, hay hoa Huệ chung thủy Lily Constancy, hoặc Muguet trong tiếng Pháp – dùng để bày trong lễ kỷ niệm 13 năm ngày cưới.

Lê Thanh Hải

Lê Thanh Hải, sinh ngày 9/12/1971 tại Hà Nội, du học sinh tại Ba Lan, hiện sống và làm việc tại London. Thạc sĩ Tự động học, Quản trị kinh doanh và Nhân học. Lê Thanh Hải còn là tác giả các cuốn: Tiểu thuyết Cơn mơ trong tuyết, sách khoa học Khảo cổ bình dân Nam Bộ (đồng tác giả với tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu) và sách du ký đầu tiên ở Việt Nam "Warszawa thân yêu". Lê Thanh Hải là sáng lập và biên tập viên tờ "Tia Sáng" năm 1995 tiền thân của "Phương Đông" những năm 1996 - 2002, vốn là cơ quan truyền thông độc lập đầu tiên của người Việt tại Ba Lan.

Bến Việt xin tiếp tục giới thiệu toàn bộ cuốn sách sắp tái bản lần 2 "Warszawa thân yêu" của Lê Thanh Hải trong những trang sau.

O ile nie zaznaczono inaczej, treść tej strony objęta jest licencją Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 License