Warszawa thân yêu- Chở củi về rừng (phần 4)

Lê Thanh Hải (20.08.2011) Văn hóa - Trong một thế giới đã quá phẳng và không còn biên giới như Liên hiệp châu Âu ngày hôm nay, có lẽ không còn thứ gì là vật lạ và cũng không còn rừng để mà người ta chở củi về.

đọc thêm:
Giới thiệu Warszawa sau 20 năm yêu
Phần 1 - Lời tựa và Những chuyến bay sáng
Phần 2 - Những chuyến xe đêm
Phần 3 - Sękacz, chleb và flaki

6041150182


Ảnh OnTheNet Một trong các ảnh sách du kí

Lần này lại về Ba Lan. Đi máy bay của WizzAir. Cất cách 19h35, về đến Warszawa là 11h đêm, nên sẽ không có một bữa tối ngon miệng. Máy bay rẻ tiền cất cánh từ Luton, chỗ hai cô hoa hậu Việt Nam Phương và Huyền từng học. Phải có mặt trước hai tiếng. Đi từ trung tâm London là ga Victoria phải mất hơn một tiếng rưỡi, nên phải đi từ nhà từ 3h chiều. Cho nên tôi cứ phải suy tính làm sao để có một bữa tối ngon miệng thì sáng hôm sau mới có sức khỏe và tâm hồn để mà làm việc. Tính toán mãi, và thật bất ngờ giải pháp hay nhất là mua bánh mì đen và xúc xích Ba Lan đem lên máy bay ngồi ăn. Thật đúng là chở củi về rừng có phải không quí vị? Nhưng nghĩ kỹ thì hình như cũng không phải như vậy cho lắm.

Sklep Polski, tức là cửa hàng bán đồ ăn Ba Lan, thì ở ngay dưới chân nhà. Đó là tại vì khu tôi ở có khá nhiều người Ba Lan sống. Mà ở London thì có chỗ nào mà lại không có người Ba Lan sống chứ. Hay mở rộng ra cho cả thế giới cũng được. Trên 13 triệu người Ba Lan sống ở các nước công nghiệp, mà ở London thì rất nhiều người Ba Lan sang lao động, thuê nhà rải rác trong các khu nghèo và trung lưu. Mà thú vị là cửa tiệm Ba Lan gần nhà tôi do người Ấn Độ bán và làm chủ. Và họ đã lập cả một hệ thống đồ ăn Ba Lan vào bán trong các siêu thị bình thường ở London. Dân Anh, hay nói đúng ra là dân London, đến từ tứ xứ, thích hưởng thụ đủ mọi thứ ngon vật lạ từ khắp mọi nơi trên thế giới chở về. Nhưng không phải cứ đồ Ba Lan là thuần gốc. Hôm nay tôi mua một chai dưa chuột muối, nhưng được ngâm cùng với ớt cay. Chắc chắn là ảnh hưởng từ thứ tương ớt cay mà các tiệm đồ ăn Việt Nam đem vào Ba Lan cùng với món nem/chả giò rồi.

Và tới sân bay thì mới thấy mình quá lo xa vì Luton bây giờ không giống như hai ba năm trước. Bên ngoài lẫn bên trong đều khá nhiều quán ăn, từ loại rẻ tiền đến quán rượu sang trọng. Trên máy bay cũng có món súp, hay chính xác hơn là mì ăn liền mà tôi cũng mua ăn. Máy bay cất cánh từ Anh - dùng tiền Bảng - bay về Ba Lan - xài tiền Zloty - nhưng bảng giá là tiền Euro, vì đó là hãng máy bay của Hungary, đầu tư đội bay hoạt động từ Warszawa. Nhưng mang theo đồ ăn cuối cùng vẫn là giải pháp tuyệt vời, vì máy bay đang lăn bánh ra phi đạo thì hộp đồ ăn đã nằm ngay trước mặt rồi, không phải chờ đợi tý nào. Chầm chậm nhấm nháp từng miếng bánh mì đen, nhá một miếng xúc xích theo kiểu Kraków (Kielbasa Sucha Krakowska), nhai với dưa chuột muối giòn tan trong vị ớt cay. Còn gì thú vị hơn một bữa ăn tối khi máy bay cất cánh trong đêm, và khi vừa lên đến độ cao qui định thì em tiếp viên người Ba Lan đẹp như hoa hậu đã đem đến ngay cho một ly mì nóng hổi, thơm lừng.

Mà hình như tại tôi cho nên xung quanh ai cũng nghĩ tới đồ ăn, và bàn chuyện món ăn. Một anh nói với anh bạn là ở nhà vợ đã làm sẵn món Kotlet Schabowy, tức là thăn heo bọc bột chiên, ăn với khoai tây nghiền, vốn là món truyền thống thuộc loại sang trong các bếp ăn tập thể cho công nhân và sinh viên ở Ba Lan. Khoai tây loại ngon, bở, luộc lên trộn với bơ, cho một ít hành lá nhưng loại cọng rất nhỏ ở Ba Lan này, bóc vỏ, có khi thêm ít lá thì là, nhào lên, chỉ cần tả thôi là tôi lại chảy nước miếng rồi. Anh bạn kia đáp trả, không, anh ta thì lại thèm Golonka, tức món chân giò heo hầm ăn với mù tạt vàng. Thể là cả hội hỏi và kể cho nhau nghe những chố nào ăn ngon. Anh thì bảo nhớ một cái quán Ả rập trên đường đi sang Đức. Anh nữa kể một cái quán xập xèm ở vệ đường, bán cá theo ký lô, nấu ngon tuyệt vời.Và họ cùng công nhận là cứ chỗ nào tài xế xe tải đậu lại nhiều là bảo đảm đồ ăn ở đó ngon và rẻ. Nghe quen quen bạn nhỉ.

Có lẽ chính những người lái xe đã làm thế giời này phẳng hơn, và xích lại gần với nhau hơn. Ở miền sông nước họ là tài công, còn trên trời là phi công. Những chuyến xe - thuyền - máy bay đem người từ chỗ này đế́n chỗ khác, đi, về, và thăm, đem hàng từ vùng này đến vùng kia, xuất, nhập, dịch chuyển. Nho và rượu vang theo dấu chân người La Mã đi từ Ý sang Pháp hay Gruzja, và nay là California, Chile, Nam Phi, Úc và cả Phan Rang nữa. Cà phê theo dấu người Hồi giáo đổ bộ vào văn hóa châu Âu để rồi trở thành sản vật quốc gia của Brazil, Indonesia và nay là Đắc Nông - Đắc Lắc. Chiếc máy bay Airbus 320 tôi đang đi đầy chật khách trên 30 hàng ghế mỗi hàng 6 người - đang chở theo 180 con người mà trong đầu mỗi người là một kho tàng kiến thức đang tiếp tục sinh sôi nảy nở và biến thành của cải cho xã hội. Trong số 12 người ngồi ở hai hàng ghế của tôi thì có 3 chiếc netbook, tức là máy tính xách tay loại thu nhỏ, trước khi iPad kịp ra đời. Còn thêm vài máy nghe nhạc MP3 nữa, và chắc chắn là trong túi ai cũng có ít nhất một điện thoại cầm tay. Ai trong số 180 hành khách này là người lao động ở Anh mang tiền về quê cho gia đình và ai là người đem mầm kiến thức về gieo để tạo ra tài sản quốc gia cho Ba Lan? Chuyến bay này đang chở bao nhiêu hàng xuất khẩu và bao nhiêu củi về rừng?

Trong một thế giới đã quá phẳng và không còn biên giới như Liên hiệp châu Âu ngày hôm nay, có lẽ không còn thứ gì là vật lạ và cũng không còn rừng để mà người ta chở củi về. Quảng cáo chiếm ngay một trang trên tờ báo biếu trên máy bay giới thiệu cửa hàng đồ ăn Ba Lan trên mạng. Bạn có thể làm việc ở London mà vẫn lên mạng mua hàng, trả tiền để tài xế tự động chở về nhà giao cho vợ con bạn ở Warszawa. Miếng bánh mì đen tôi đang ăn ghi rõ là bánh mì Ba Lan, nhưng thực ra làm ở vùng Essex của nước Anh, còn bột mì mà họ nhập từ Đức hay Pháp thì tôi cũng chịu. Chỉ biết là món xúc xích gia truyền của người Thụy Sĩ năm nay có nguy cơ khan hiếm vì nguồn nguyên liệu ruột bò vốn xưa nay vẫn nhập từ Brazil giờ có nguy cơ gián đoạn. Và từ khi sang Anh sống thì tôi cũng biết là món súp xách bò Ba Lan không phải là món ngon nhất từ dạ dày bò, mà người châu Phi ở khu Peckham có đủ loại món khác nhau chế biến từ thứ nguyên liệu phổ biến này, cũng như người Việt Nam ở đồng bằng sông Cửu Long thường thích luộc lên chấm tương ớt hay mắm, uống với rượu. Nếu xoay trái đất đi vài vòng để thay đổi hệ qui chiếu địa lý, hay ngược lại theo chiều thời gian, thì ta sẽ thấy củi và rừng là hai khái niệm vô cùng tương đối, vì có những chỗ tưởng là rừng lại không hẳn là rừng như ta tưởng. Đi nhiều sẽ giúp chúng ta có cơ hội đứng từ nhiều điểm khác nhau trên trái đất để lấy làm tâm nhìn ra thế giới, còn đọc nhiều sẽ giúp chúng ta hiểu được góc nhìn từ những chỗ từng được lấy làm tâm điểm trong quá khứ.

Như nước Ba Lan đó, bạn có thể tưởng tượng nơi đây từng tràn ngập các chiến binh Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn, mà sau này họ chia làm hai, một nửa xuống Hungary, một nửa lên Phần Lan, để ngày nay văn hóa và ngôn ngữ ba nước Mông Cổ - Hungary và Phần Lan có rất nhiều điểm tương đồng, như cách gọi con dao găm chẳng hạn. Ba Lan thì giữ lại món Tatar - thịt bò sống băm ra trộn với trứng sống - món đặc sản mắc tiền trong nhà hàng sang trọng. Hay như cũng là nước Ba Lan, nhưng nếu đi lên phía Bắc bạn sẽ thấy người ta bày bán các loại đá Amber, vớt dọc bờ biển. Thực ra đó là những khối nhựa cây từ những cánh rừng mà do băng tan nên nước biển đã dâng lên phủ lấp. Rừng nơi trước kia là thung lũng sau nhiều năm bị sức nước ép nay biến thành dầu khí ở lục địa biển Baltic. Như vậy, nếu đáy biển ngày xưa nay là rừng, thì miền đồng bằng đang là lãnh thổ Ba Lan ngày xưa phải là cao nguyên. Đúng vậy, dân châu Âu xưa được gọi là Aryan, là thứ người du mục, sống theo văn hóa thảo nguyên hơn là định cư và canh tác nông nghiệp. Thời gian không chỉ làm thay đổi điều kiện tự nhiên mà còn cả văn hóa của con người nữa. Ngồi nhìn các cô gái Ba Lan khỏa thân trên bờ biển gần Sopot, tôi nhớ tới giả thiết nước dâng trong kỷ Holocene có thể đã từng làm biến mất nền văn hóa Sundaland vốn từng nối kết toàn bộ vùng Đông Nam Á với nhau.

Có những chuyện mà khi người ta thay đổi vị trí trong không gian và thời gian thì mới có thể nhận ra được. Bản thân tôi nhờ sang Ba Lan mới có cơ hội hiểu bản thân mình và nhận biết bản sắc Việt Nam. Triết gia Leszek Kolakowski [23] (1927-2009) nói chúng ta chỉ có nhận biết quãng thời gian mình đang sống bằng cách chờ nó qua đi.. Triết gia Zygmunt Bauman [24] nói bản sắc của mỗi con người là một chuyến du hành. Nhà báo Ryszard Kapuscinski [25] (1932-2007) cho rằng con người ta sẽ nhìn thấy nhiều sự kiện giống nhau trong không gian và thời gian, như ông đã tìm thấy mình trong quá khứ 2.500 trước qua hình ảnh sử gia và cũng là phóng viên nước ngoài đầu tiên Herodotus. Nhà báo Tomasz Lis [26] nhờ thời gian làm phóng viên ở Washington mà có được cái nhìn về một đất nước Ba Lan đang chuyển đổi. Với những Frédérick Chopin [27] (1810-Cho nên Anna Wierzbicka [33] mới đem nước Nhật về Cambridge để thành chuyên gia hàng đầu thế giới về ngôn ngữ học, Bronislaw Malinowski [34] (1884-1942) đem văn hóa Nam Đảo về LSE để lập ngành nhân học, và Florian Znaniecki [35] (1882-1958) nghiên cứu chính những đồng hương di dân để tạo đà cho ngành xã hội học toàn nước Mỹ qua trường phái Chicago. Có lẽ chỉ có người Ba Lan mới đủ tinh thần, đóng góp tiền của và sức lực để phục chế toàn bộ khu thành cổ ở Warszawa, để rồi ngay nay đi đến đâu người ta cũng gặp các chuyên gia Ba Lan trong ngành bảo tồn và khảo cổ, như ân nhân của Mỹ Sơn và Hội An Kazimierz Kwiatkowski [36] (1944-1997). Ngày rời Ba Lan tôi đã đem một chút Ba Lan ra thế giới và trên mỗi chuyến bay về Ba lan như hôm nay tôi lại đem một chút Ba Lan trên thế giới về lại với Ba lan, một điều mà tôi hầu như chưa cảm thấy bao giờ trên các chuyến bay về Việt Nam. Có phải vì trong tôi vấn còn vương vấn với nỗi lo nhiều người Việt Nam vẫn còn đang nghĩ Việt Nam là rừng nên sợ đem củi về?


Chú thích:
(23) Ông là triết gia nghiên cứu chủ nghĩa Mác và cũng là sử gia tư tưởng ở tầm thế giới, với bộ sách ba tập xuất bản năm 1976 [Các dòng chính của chủ nghĩa Mác] Główne nurty marksizmu thuộc nhóm các tác phẩm quan trọng nhất trong thế kỷ 21.
(24) Chuyên gia hàng đầu thế giới về hậu hiện đại. Năm 1968 ông bị loại khỏi trường đại học tổng hợp Warszawa vì lý do chính trị khi đang làm chủ nghiệm khoa xã hội học tổng hợp, và rời Ba Lan khi không khí bài Do Thái tăng cao, sang Anh làm việc cho đại học Leeds và phụ trách khoa xã hội học cho đến ngày về hưu, quay về Ba Lan làm hiệu trưởng đại học phổ cập mang tên Jan Józef Lipski ở Podlasie. Zygmunt Bauman coi bản sắc con người là quá trình hình thành qua những chuyến đi, như một chuyến hành hương thời Trung cổ, hay nay là các chuyến du lịch. Đi không chỉ để “cho biết đó biết đây” như câu ca dao quen thuộc ở Việt Nam mà còn là quá trình tạo ra bản sắc của cá nhân, là quá trình hiểu chính bản thân mình, như trong bài hát nổi tiếng của Lê Vinh: “những ngày tôi lang thang, tôi mới hiểu tâm hồn người Hà Nội”.
(25) Ông là phóng viên nước ngoài duy nhất của thông tấn xã Ba Lan PAP thời 1960s và trong vòng 10 năm sau đó phụ trách tất cả các tin tức đến từ 50 quốc gia trên thế giới. Tự truyện của ông Du hành cùng Herodotus được Nguyễn Thái Linh – đang sống ở Ba Lan – dịch sang tiếng Việt và NXB VHSG xuất bản năm 2008.
(26) Nhà báo nổi tiếng Ba Lan, sinh năm 1966, lên sóng truyền hình trung ương Ba Lan TVP trong thập niên 1990s và nổi tiếng với các tường thuật gửi về từ Washington. Đến đầu 2000s anh đồng sáng lập kênh truyền hình tư nhân và phụ trách phần thời sự TVN. Năm 2003 anh viết quyển sách về nước Ba Lan Co z tą Polską? xếp vào hàng bán chạy nhất lúc bấy giờ, ngụ ý ra tranh cử tổng thống, bỏ TVN và chuyển sang kênh truyền hình tư nhân Polsat. Tomasz Lis cũng phụ trách nhiều mục bình luận trên các báo và in sách về nghề phóng viên và dân tộc Ba Lan, có tầm ảnh hưởng lớn về tư tưởng tới khán giả truyền hình và nhiều nhóm độc giả khác nhau.
(27) Nhạc sĩ nổi tiếng với những bài dạ khúc Nocturne sâu lắng cho Piano bên cạnh các thể loại nhạc giao hưởng hoành tráng và điệu khúc Mazurka nổi tiếng của Ba Lan. Thưở nhỏ ông sống trong ngôi biệt thự ở Zelazowa Wola gần Warszawa mà nay trở thành điểm du lịch nổi tiếng. Đến năm 20 tuổi ông chuyển lên học ở Warszawa trước khi sang Viên rồi Paris và London để lánh nạn chiến tranh, mãi mãi đem tình yêu quê hương trong tim - vật được gửi về Ba Lan để chôn ở nơi nay là bảo tàng Chopin ở Warszawa. Ngày nay, cuộc thi nhạc Chopin được tổ chức tại Warszawa mỗi 5 năm một lần với giám khảo từ các cường quốc âm nhạc trên thế giới trở thành cuộc thi thuộc hàng danh giá nhất để chọn lựa các nghệ sĩ pianist hàng đầu thế giới. Năm 1980 Đặng Thái Sơn của Việt Nam đoạt giải nhất đầu tiên cho châu Á và sau này anh cũng được mời làm một trong các giám khảo. Khu công viên Ladzienki vào mùa hè thường tổ chức độc tấu nhạc Chopin miễn phí ngay dưới chân khu tượng đài. Nhạc viện Chopin cũng thường xuyên có các buổi diễn nhạc miễn phí, từ nhạc công diễn tập các tác phẩm cổ điển cho đến những chương trình thử nghiệm đồ sộ của sinh viên trong ngày bảo vệ luận văn tốt nghiệp. Lịch diễn có sẵn theo mùa, dán trước của trường, người xem phải đến trước giờ mở cửa 30’ để lấy vé.
(28) Nhà văn đoạt giải Nobel văn học năm 1905 với tác phẩm được biết đến nhiều nhất là Quo Vadis, được Nguyễn Hữu Dũng dịch sang tiếng Việt và Hội nhà văn xuất bản năm 1987, tái bản nhiều lần, NXB Lao Động và TT VNNN Đông Tây tái bản năm 2009.
(29) Nhà văn lớn với tác phẩm Pan Tadeusz mà tất cả học sinh Ba Lan đều phải học, được nhiều dịch giả trong đó có TSKH Nguyễn Văn Thái dịch sang tiếng Việt, NXB Hội nhà văn và TT VHNN Đông Tây xuất bản năm 2008.
(30) Nhà thơ đoạt giải Nobel văn học năm 1996 với nhiều triết lý được đem vào thơ như sự khác nhau của hai giọt nước, và không có điều gì xảy ra hai lần. Một số bài thơ của Szymborska được nhà thơ Tạ Minh Châu dịch sang tiếng Việt, NXB Hội nhà văn xuất bản năm 1997.
(31) Đạo diễn bộ phim nổi tiếng The Pianist được giải Oscar năm 2002 cho bộ phim The Pianist, và nhiều giải thưởng lớn từ các liên hoan phim danh tiếng trên thế giới.
(32) Đạo diễn được giải Oscar cho sự nghiệp năm 2000, tác giả của nhiều bộ phim nổi tiếng Ba Lan và thế giới, đặc biệt là chuyển thể điện ảnh Pan Tadeusz năm 1999 với điệu múa dân tộc trên nền nhạc Wojciech Kilar.
(33) Giáo sư ngôn ngữ học tại đại học quốc gia Úc, phát triển từ tư tưởng về các ký tự cơ bản trong tư duy của con người của triết gia và nhà toán học Đức Gottfried Leibniz (1646-1716).
(34) Sinh trưởng trong gia đình giáo sư trung lưu ở Kraków, ông tốt nghiệp tiến sĩ chuyên ngành toán lý tại đại học Jagiellonski, chuyển sang nhân chủng học với các chuyên gia kinh tế và tâm lý ở Leipzig, rồi sang Anh. Công trình quan sát của ông ở Papua New Guinea trên đảo Mailu và Trobriand nay trở thành sách giáo khoa cho sinh viên theo trường phái dân tộc ký.
(35) Ông lập khoa xã hội học đầu tiên của Ba Lan ở Poznan và ở lại Mỹ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ và không về nước hợp tác với chính phủ cộng sản được dựng lên sau ngày hòa bình, giữ chức chủ tịch thứ 44 của Hiệp hội xã hội học Hoa Kỳ vào năm 1954.
(36) Xuất thân là kiến trúc sư, ông sang Việt Nam làm chuyên gia rồi ở lại Hội An, tìm lại thánh địa Mỹ Sơn trên thực địa từ sách của Pháp, vận động Unesco công nhận các di sản và tham gia phục chế từ năm 1881 đến ngày qua đời tại Việt Nam. Năm 1999 NXB Đà Nẵng xuất bản quyển sách Kazik: Ký ức bạn bè và thành phố Hội An khánh thành tượng đài ông vào năm 2007. Một bức tượng khác cũng được dựng ở Mỹ Sơn năm 2009.

Lê Thanh Hải

Lê Thanh Hải, sinh ngày 9/12/1971 tại Hà Nội, du học sinh tại Ba Lan, hiện sống và làm việc tại London. Thạc sĩ Tự động học, Quản trị kinh doanh và Nhân học. Lê Thanh Hải còn là tác giả các cuốn: Tiểu thuyết Cơn mơ trong tuyết, sách khoa học Khảo cổ bình dân Nam Bộ (đồng tác giả với tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu) và sách du ký đầu tiên ở Việt Nam "Warszawa thân yêu". Lê Thanh Hải là sáng lập và biên tập viên tờ "Tia Sáng" năm 1995 tiền thân của "Phương Đông" những năm 1996 - 2002, vốn là cơ quan truyền thông độc lập đầu tiên của người Việt tại Ba Lan.

Bến Việt xin tiếp tục giới thiệu toàn bộ cuốn sách sắp tái bản lần 2 "Warszawa thân yêu" của Lê Thanh Hải trong những trang sau.

O ile nie zaznaczono inaczej, treść tej strony objęta jest licencją Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 License