Biển, núi và cả rừng đều mất
flickr:4398116010


Phế tích Trung Liệt Miếu – Gò Đống Đa, Hà Nội

Trần Quốc Hiên – ĐDCND (02.03.2010) Xã hội - Nếu để Trung Quốc chiếm lĩnh các khu rừng núi đầu nguồn dọc biên giới phía Bắc, biên giới phía Tây, thì họ có thể kiểm soát toàn tuyến biên giới nước ta. Cùng với việc làm chủ cao nguyên trung phần, họ sẽ hoàn toàn khóa chặt nước ta trong thế trận điểm huyệt và bao vây chiến lược.

Núi rừng biên giới

Xét về chiến lược quân sự, nếu để Trung Quốc chiếm lĩnh các vị trí cao điểm, các khu rừng núi đầu nguồn dọc biên giới phía Bắc, biên giới phía Tây, thì họ có thể kiểm soát toàn tuyến biên giới nước ta, thực hiện bao vây cô lập hoặc mở thông tuyến biên giới khi tiến hành các chiến dịch quân sự. Cùng với việc làm chủ cao nguyên trung phần (Tây Nguyên vùng chiến lược mái nhà củaĐông Dương) và vùng biển bảo vệ sườn phía Đông (Biển Đông Việt Nam), họ sẽ hoàn toàn khóa chặt nước ta trong thế trận điểm huyệt và bao vây chiến lược.

Biển Đông sóng gió còn chưa lặng, sự kiện bô-xít Tây Nguyên còn chưa lắng xuống, thì lại tiếp tục xảy ra sự việc cho Trung Quốc thuê dài hạn (50 năm) nhiều khu rừng đầu nguồn dọc biên giới phía Bắc, phía Tây của nước ta, điều này được nói rõ trong thư gửi Bộ chính trị của hai vị Tướng lão thành; Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh.

Là vị Tướng Trường Sơn, ông Đồng Sĩ Nguyên hiểu rõ tầm quan trọng chiến lược của núi rừng Trường Sơn, biên giới phía Tây của nước ta. Làm chủ vùng Trường Sơn là có thể kiểm soát thế trận trên cả nước. Có thể khẳng định rằng những người lính Trường Sơn đã góp phần công lớn mang tính quyết định đến chiến thắng chung của quân Bắc Việt trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Sau này qua cuộc chiến tranh biên giới Việt Nam – Trung Quốc năm 1979, người ta hiểu rõ thêm tầm chiến lược của vùng núi rừng dọc biên giới phía Bắc nước ta, nhiều trận chiến đẫm máu đã diễn ra tại đây, giành giật nhau từng vị trí cao điểm, từng dòng sông con suối.

Ngày nay, không cần phải tốn một viên đạn nào, người Trung Quốc vẫn bước chân vào được nơi đây, làm cơ sở cho việc di dân lập ấp, đặt căn cứ quân sự sau này. Việc này đã được hai vị Tướng cảnh báo:

Thư của hai ông được phổ biến trên diễn đàn điện tử ‘boxitvn’ vào ngày 10/2/2010, có viết: “Theo chỉ thị của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ Trưởng Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đã cử đoàn cán bộ liên ngành trực tiếp kiểm tra hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh, đồng thời tổng hợp báo cáo của tám tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Ðịnh, Kon Tum và Bình Dương. Kết quả cho thấy 10 tỉnh trên đã cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 305,3534 nghìn ha, trong đó Hồng Kông, Ðài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 nghìn ha; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.”

Hai ông nhận định rằng: “Ðây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn“, rồi cảnh báo: “Cho Hồng Kông, Ðài Loan, Trung Quốc khai thác rừng đầu nguồn là tiềm ẩn đầy hiểm họa. Họ đã thuê được thì họ có quyền chặt phá vô tội vạ. Rừng đầu nguồn bị chặt phá thì lũ lụt, lũ quét sẽ rất khủng khiếp. Năm qua nhiều tỉnh miền Trung đã hứng chịu đủ, chẳng phải là lời cảnh báo nghiêm khắc hay sao?”

Hai ông vạch rõ trong lá thư: “Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước. Còn các nước mua rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo. Nếu chúng ta không có biện pháp hữu hiệu, họ có thể đưa người của họ vào khai phá, trồng trọt, làm nhà cửa trong 50 năm, sinh con đẻ cái, sẽ thành những ‘làng Ðài Loan,’ ‘làng Hồng Kông,’ “làng Trung Quốc.” Thế là vô tình chúng ta mất đi một phần lãnh thổ và còn nguy hiểm cho an ninh, quốc phòng.”

Biên giới mềm

Trong thế kỷ 21, về cơ bản đã hình thành đường biên giới phân định lãnh thổ, lãnh hải của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tuy nhiên, các nước lớn, với tiềm lực kinh tế, quân sự vượt trội, họ không ngừng bành trướng quyền lực, tranh giành thị trường và nguồn lợi tài nguyên trên thế giới; quá trình đó hình thành nên các đường “biên giới mềm” phân chia phạm vi ảnh hưởng của các cường quốc. Đi cùng với việc bành trướng quyền lực dựa trên sức mạnh quân sự, kinh tế, luôn là quá trình bành trướng “quyền lực mềm”, hay còn gọi là cuộc “xâm lăng văn hóa”,đây là mối hiểm họa lớn nhất đối với những nước yếu nghèo như Việt Nam.

Đảng Cộng sản Trung Quốc lớn tiếng tuyên bố với thế giới về tham vọng siêu cường: Trung Quốc đang hoàn thành giai đoạn phát triển nhanh tiến tới cuộc sống giàu có, để bước vào giai đoạn phát triển hoàng kim; từ nay đến năm 2020, Trung Quốc sẽ vươn lên vị trí siêu cường đối trọng với Mỹ, phấn đấu đến năm 2030 cả thế giới chỉ còn một trung tâm quyền lực thống trị, đó chính là Đế Quốc Trung Hoa.

Với tham vọng đó, Trung Quốc cần mở rộng biên giới mềm, mở rộng sức bành trướng quyền lực xuống phía Nam, trọng tâm là vùng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ (quân khu 5) và vùng biển Trường Sa (vùng 4 Hải quân) của Việt Nam, nơi trung tâm kiểm soát toàn bộ vùng Đông Nam Á.

Mối hiểm họa của đất nước đã quá cận kề và quá rõ ràng, mưu mô thâm độc của bọn bá quyền bành trướng Trung Quốc đã được phơi bầy, vậy mà các quan chức Cộng sản Việt Nam từ trung ương đến địa phương vẫn thản nhiên bỏ ngoài tai mọi lời khuyên can, họ dửng dưng trước vận mệnh của đất nước và nhân dân.

Một âm mưu chiến lược đã được những kẻ ôm mộng bá chủ ở chóp bu Đảng Cộng sản Trung Quốc ấp ủ, nuôi dưỡng từ lâu, điều mà các nhà lãnh đạo Tiền bối đã sớm nhận ra và các Tướng lĩnh cao cấp đã nhiều lần lên tiếng cảnh báo, nhưng nó vẫn trở thành hiện thực ở nước ta như một tấn thảm kịch mà nhân dân ta có thể sẽ phải gánh chịu.

Bài học lịch sử Mị Châu – Trọng Thủy còn đó; nếu những kẻ cầm quyền không biết dựa vào dân, mù quáng tin vào những lời đường mật về “16 chữ vàng” và “4 tốt”, tin vào mối quan hệ đồng chí “lý luận tương đồng”, “vận mệnh tương quan” với Đế quốc Cộng sản Trung Hoa, thì nguy cơ mất nước hàng ngàn năm sẽ là có thật và rất gần.

Vận hội mây Rồng

Năm Canh Dần (Hổ) theo các chiêm tinh gia, các nhà Phong thuỷ học và các nhà nghiên cứu sẽ là năm có nhiều biến động lớn. Với Việt Nam đây là năm kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, kể từ khi Vua Lý Thái Tổ tuyên đọc chiếu dời đô, đến nay đất nước lại gặp vận hội Rồng bay. Sự kiện “Long Hổ Tương Phùng” ngàn năm có một, ứng với câu Sấm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Canh niên tân phá; Tuất hợi phục sinh”, ” Ngỏ hay gặp hội mây rồng; Công danh sáng chói chép trong vân đài”…

Hiện tượng Mây Rồng gắn với sự tích tên gọi Thăng Long, và gần đây liên tục thấy gặp ở Đền Đô, nơi quê hương Nhà Lý. Lần xuất hiện gần đây nhất là vầng mây ngũ sắc hình Rồng trên bầu trời Hà Nội hôm 20/8/2009, tức ngày 1/7 âm lịch.

Đó là những điềm báo năm Canh Dần đất nước sẽ có cuộc đổi thay lớn lao, toàn diện. Từ việc phân tích tình hình thời sự của đất nước, ta thấy sự thay đổi chỉ có thể theo một hướng, đó là thay đổi thể chế chính trị từ chế độ độc đảng toàn trị sang chế độ dân chủ nhân dân. Quá trình thay đổi sẽ lâu dài, có thể là 10 năm hoặc lâu hơn, nhưng tất yếu phải trải qua giai đoạn tự diễn biến chuyển hóa trong nội bộ Đảng Cộng sản và trong toàn xã hội.

Một nhân tố có vai trò quyết định thúc đẩy quá trình tự diễn biến chuyển hóa diễn ra nhanh hơn, đó là sức mạnh phản biện của giới Trí thức cả trong và ngoài đảng, trong nước và ngoài nước. Nói cách khác giới Trí thức phải đi tiên phong trong công cuộc dân chủ hóa, chấn hưng nước nhà, tiến tới dân giàu nước mạnh, phú quốc cường binh để bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc.

Đã từ lâu, giới Trí thức chỉ được nghĩ, nói và làm theo ý của Đảng CSVN, chứ không được nghĩ những gì mình tin, nói những gì mình nghĩ và làm những gì mình muốn. Nhiều người đã phải bẻ cong ngòi bút, uốn lưỡi để vừa ý Đảng CSVN cốt làm sao cho vẹn toàn yên ổn cuộc sống. Những Trí thức có cá tính thẳng thắn thì quyết không cam chịu, họ lựa chọn cuộc sống ẩn dật chờ cơ hội ra tay giúp nước.

Đã đến lúc giới Trí thức phải cất tiếng nói, vươn vai lớn dậy như Thánh Gióng năm xưa; câu nói đầu đời là tiếng yêu quê hương đất nước, việc làm đầu tiên là giúp nước cứu dân, đó là khí phách của những người con Trung Liệt.

Trung Liệt Miếu trong tâm thức người Việt

Cha ông ta từng có Võ Miếu và Văn Miếu thể hiện tinh thần thượng võ và tư tưởng trọng dụng hiền tài, coi hiền tài là nguyên khí quốc gia. Trong gian thờ các võ tướng Nhà Lý tại Đền Đô vẫn còn dòng chữ: “Thần Võ Tiếp Tứ Lân”, tạm dịch là Nước Nam có Thần Võ sẵn sàng nghênh đón các nước lân bang, nếu họ đến với thiện chí thì ta đáp lại bằng thiện chí, còn nếu họ đến với mưu đồ xấu thì đã có Thần Võ đánh đuổi chúng đi. Thần Võ hiểu rộng ra là khí phách, ý chí của cả dân tộc, được biểu hiện qua những tấm gương Trung Liệt.

Hiện nay tại Hà Nội, trên đỉnh Gò Đống Đa, vẫn còn phế tích của Trung Liệt Miếu gồm toàn bộ nền móng cùng một số hiện vật và phế tích khác. Không rõ Trung Liệt Miếu trở thành hoang phế từ khi nào, chỉ biết trước khi Hồ Chí Minh và Đảng CSVN lên nắm quyền, thì các Triều đại vẫn nối tiếp việc gìn giữ và thờ tự tại Trung Liệt Miếu.

Những người được thờ ở Trung Liệt Miếu là những Anh hùng dân tộc, họ đã thể hiện khí phách “Thần Võ nước Nam” vô cùng oanh liệt, tỏ rõ tấm lòng Trung với Tổ quốc: “Trung với nước, Oanh Liệt trước quân thù”. Những bậc Minh Trung Tiết Liệt đó có thể kể ra: Lê Lai, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Nguyễn Cao… Và người được đưa vào thờ ở Trung Liệt Miếu sau cùng là người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ (năm 1946).

Hiện nay, chỉ còn chưa đầy 8 tháng nữa là đến Đại lễ 1000 năm Thăng Long, song chúng ta vẫn chưa thấy có dấu hiệu gì của việc khởi công xây dựng lại Trung Liệt Miếu. Tại khu vực Gò Đống Đa, chỉ còn thấy những phế tích của toà miếu cổ, gồm cửa Tam Quan còn khá nguyên vẹn, nền móng công trình, sân gạch, chân cột, bàn đá, ghế đá và một vài phế tích khác.

Toàn bộ phế tích Trung Liệt Miếu vẫn nằm trơ gan cùng tuế nguyệt, một cảnh tượng nhắc chúng ta nhớ đến thời kỳ suy vong: những tấm gương Trung Liệt bị lãng quên, trong khi bọn tiểu nhân phản quốc thì lại lớn tiếng rao giảng về đạo lý, cao giọng dạy đời, chúng ép buộc nhân dân phải đi theo con đường tăm tối, phải trung thành tuyệt đối, mãi mãi tin theo lý tưởng mà chúngđặt ta…

Vào thời khắc thiêng liêng kỷ niệm 1000 Thăng Long, việc phục dựng (xây dựng lại) Trung Liệt Miếu có ý nghĩa không chỉ quan trọng về mặt tâm linh, mà còn có giá trị văn hoá, lịch sử, triết học, tư tưởng sâu sắc; góp phần giáo dục lòng yêu nước, tự tôn dân tộc trong mọi tầng lớp nhân dân. Việc đó không thể không làm! Làm sống lại tinh thần Trung Liệt, khí phách Thần Võ chính là để nhắc nhở con cháu đời đời ghi nhớ bài học dựng nước và giữ nước của Tổ tiên, nêu cao khí phách, ý chí vươn lên để thoát khỏi nghèo hèn, làm cho nước ta được vẻ vang với thế giới.

Những người con Trung Liệt đã ngã xuống, họ hi sinh để đất nước được trường tồn. Tiến tới dân chủ hóa là con đường duy nhất đúng đắn lúc này, và dấn thân vì nền dân chủ, đó cũng chính là cách chúng ta thể hiện tấm lòng Trung Liệt sâu sắc nhất, cao cả nhất.

Việt Nam, ngày 24-2-2010

Trần Quốc Hiên


nguồn: bài chủ từ Đảng Dân Chủ Nhân Dân

Bình Luận

Dodaj nową wypowiedź
lub Zaloguj się jako użytkownik serwisu Wikidot.com
(nie będzie opublikowany)
- +
O ile nie zaznaczono inaczej, treść tej strony objęta jest licencją Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 License