Ba Lan công giáo nghĩa là gì? (2/3)

SWS - Bến Việt (13.03.2010) Xã hội - Các linh mục, giám mục, hay cả những người vô thần và những người nhận mình có gắn bó với Nhà thờ Thiên Chúa, đều là những trí thức hàng đầu, những người tấu tạo văn hóa, nhà giáo, những tấm gương đạo đức xã hội và là những người có uy tín quốc gia. Cùng điểm qua một vài nhân vật trong số đó.

Trải qua hàng thế kỷ, các linh mục, giám mục, hay cả những người vô thần và những người nhận mình có gắn bó với Nhà thờ Thiên Chúa, đều là những trí thức hàng đầu, những người tấu tạo văn hóa, nhà giáo, những tấm gương đạo đức xã hội và là những người có uy tín quốc gia. Dưới đây, điểm qua một vài nhân vật trong số đó:

Giám mục Phong thánh Wincenty Kadłubek (khoảng năm 1150-1223), người viết văn sử đầu tiên của Cộng hòa Ba Lan (tên gọi truyền thống của nhà nước Ba Lan, với ý nghĩa giống như đại chúng - cộng hòa). Ông đã mở ra cơ sở có ý thức về lịch sử cho người Ba Lan, ông cũng là nhà tư duy và nhà đạo đức chính trị.

Linh mục Paweł Włodkowic từ vùng Brudzeń (khoảng năm 1370-1435), hiệu trưởng Trường đại học Kraków, thay mặt cho Vua Ba Lan đứng ra tranh cãi với Nhóm Đội quân Thập tự ở Đại hội Konstancja (năm 1414-1418) và đã chứng minh rằng sách giảng Công giáo không cho phép dùng vũ lực để ép buộc theo đạo như quân Thập tự thường làm. Trong buổi tranh luận với Nhóm quân Thập tự, ông đã mở ra nền tảng của sự thông hiểu về quyền con người và quyền cho các dân tộc, từ đó chuyển thành quyền quốc tế. Dựa trên cơ sở những tài liệu của Kinh thánh và các giấy tờ của các Cha cố Nhà thờ, Linh mục Włodkowic khẳng định: mỗi con người đều có quyền có danh dự và tình thương mà không phụ thuộc vào tôn giáo họ đang tin nhận. Qua Đại hội, ông đã lập ra một kho báu các tư duy, mà sau đó qua Châu Âu Công giáo, trở thành niềm khởi đầu cho dòng tư duy văn hóa Châu Âu, công nhận tính chất chủ yếu của Công giáo, phản đối việc xâm chiếm với lý do truyền đạo, mà không chịu chấp nhận những người có tư duy khác, hay không chịu cởi mở với các tôn giáo hoặc các hệ thống đạo đức khác.

Phong thánh Jadwiga Andegaweńska (khoảng năm 1373-1399) – hoàng hậu Ba Lan. Lên ngôi từ lúc 11 tuổi, bà cũng mất sớm, khi mới 25 tuổi, nhưng bà đã được ghi vào trang sử như một trong những thủ lĩnh nổi tiếng tài năng nhất của Ba Lan. Bà trung thành với Chúa, phúc hậu với người dân, là người đại diện cho tầng lớp văn hóa và khoa học, bà cũng có tài năng chính trị và ngoại giao tuyệt vời, ngoài ra bà được khắp nơi công nhận là người phụ nữ đẹp nhất Châu Âu. Ở đâu có thể, bà đều giải quyết được các xung đột bởi tài đàm phán mà không cần tranh chấp bằng vũ lực. Bà luôn ủng hộ tầng lớp dân nghèo, bảo vệ danh dự của họ trước những kẻ giàu sang, bà cung cấp quỹ tài chính cho nhiều cơ quan xã hội quan trọng. Toàn bộ tài sản của mình, tất cả báu vật của dòng tộc được bà quyên góp cho quỹ phát triển Trường đại học Kraków. Vào những năm 80 ở thế kỷ XX, khi lăng mộ của bà được khai quật, người ta chỉ tìm thấy những đồ trang sức làm bằng da và gỗ.

Giám mục Wawrzyniec Goslicki (khoảng năm 1530-1607) – nhà triết lý chính trị nổi tiếng, tác giả của Công ước De optimo senatore. Ông phản đối sự vô cảm và chỉ ra phận sự trách nhiệm của người nắm chính quyền. Các tác phẩm của ông có ảnh hưởng lớn tới phát triển tư duy đạo đức chính trị Châu Âu.

Jan Zamoyski (năm 1542-1605) là triệu phú nổi tiếng, thủ lĩnh, nhà ngoại giao và là một trong những nhà chính trị danh tiếng nhất trong lịch sử Ba Lan, khi nói đến người dân, ông muốn hiến một nửa sức khoẻ mình để sao cho tất cả mọi người có thể trở thành người theo đạo Thiên chúa, ông sẽ hạnh phúc nhìn thấy sự hòa hợp thánh thần, và ông có thể hiến toàn bộ sức khoẻ của mình để không có ai dùng vũ lực chống đối con chiên .

Linh mục Piotr Skarga SJ (năm1536-1612) – cha cố, nhà đạo đức học, giảng viên của nhà vua, triệu phú nổi tiếng, nhà quý tộc, người thuyết ngôn tuyệt vời và nhà văn. Ông thường diễn thuyết trước đám đông để dạy đạo đức xã hội, chăm nom tài sản chung và truyền bá tình yêu Tổ quốc. Ông là người đại diện tài năng nhất của dòng chuyển đổi Ba Lan, nghĩa là phong trào bảo vệ Thiên chúa giáo, phản đối việc truyền bá tôn giáo Tin lành. Trong thời điểm mà ở Tây Âu nổ ra những cuộc chiến tranh tôn giáo, những người chống đối ở Ba Lan nhất định phản đối việc dùng bạo lực trong việc đấu tranh với người theo đạo Tin Lành. Ông muốn có sự thống nhất giữa Nhà thờ Thiên chúa giáo và Nhà thờ Chính thống.

Linh mục Stanisław Staszic (năm 1755-1826) và linh mục Hugo Kołłątaj (năm 1750-1812). Những nhà lãnh đạo trí thức, tinh thần và chính trị của phong trào đại cải cách Tân trào trong nhà nước Ba Lan. Thành quả của phong trào là thông qua Hiến pháp Mùng 3 tháng 5 năm 1791 - hiến pháp hiện đại đầu tiên ở Châu Âu, là Hiến pháp thứ hai trên toàn thế giới, sau Hiến pháp của Mỹ. Hiến pháp này không từ bỏ ưu tiên hàng đầu cho tôn giáo Thiên chúa trong nhà nước, nhưng cũng có nhấn mạnh đến sự bình đẳng cho cả các tôn giáo khác.

Cyprian Norwid (1821-1883), nhà thơ vĩ đại và nhà tư duy nổi tiếng, ông có ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần và văn hóa Ba Lan. Người làm thơ nổi tiếng nhất Ba Lan, rất hay được ngâm và trích thơ. Ông viết rất nhiều triết lý có giá trị về tư duy sâu sắc trong Thiên chúa giáo, trong văn hóa cổ điển, trong lịch sử tâm linh của dân tộc Ba Lan. Đồng thời ông cũng có tư duy rất hiện đại, nhanh chóng nắm bắt tốc độ phát triển của các biến chuyển của nền văn minh. Ông cũng rất đại chúng, thường nói về các giá trị chung của nhân loại. Ông từng nói: „Tổ quốc là trách nhiệm tập thể vĩ đại”, nhưng ông đồng thời cũng nói thêm: „Con người quý tộc không thể sống nổi một ngày trong Tổ quốc, nếu ở đó, hạnh phúc tại Tổ quốc mình không được là một phần dẫu nhỏ trong hạnh phúc của toàn Nhân Loại. Tất thảy cha ông Cộng hòa Ba Lan đều thấu hiểu Ba Lan như vậy”. Các tác phẩm của Cyprian Norwid là biểu tượng vĩ đại của cá nhân, của tư duy thấm sâu trong lời dạy bảo của Công giáo. Ở đó, con người là giá trị cao cả nhất trên toàn cầu, bởi con người có danh dự vô cùng. Trong cách viết của ông, chúng ta thấy được một loạt những tính cách tưởng như phản biện với nhau, nhưng có tính chất đặc biệt cho Công giáo. Ông rất yêu Tổ quốc, nhấn mạnh giá trị dân tộc, luôn coi mình gắn liền mật thiết với dân tộc, đồng thời ông cũng chỉ ra được giới hạn đại chúng của nhân loại, ông phản đối kiểu ích kỷ dân tộc khép kín, ông không chấp nhận sự khinh biệt đối với người nước ngoài. Ông theo đạo Thiên chúa giáo, tưởng niệm Đức mẹ đồng trinh Maryja, mẹ của Chúa Giêsu Crixtốp, ông luôn trung thành với Giáo Hoàng và Nhà thờ, nhưng đồng thời ông cũng nhấn mạnh giá trị của sự phát triển nhân loại trong văn hóa Cổ đại, ông nhấn mạnh tài sản của toàn nhân loại ảnh hưởng tới sự hình thành mỗi các thể con người. Ông nhấn mạnh về giá trị truyền thống, tài sản lịch sử - giá trị của những gì trong quá khứ, nhưng đồng thời ông cũng chỉ trích xã hội hiện đại không theo kịp tinh thần tiến bộ, theo kịp sự phát triển của nền công nghệ hiện đại và các yếu tố của nền văn minh.

Linh mục Piotr Wawrzyniak (năm 1849-1910). Lãnh tụ dân tộc ở vùng Wielkopolska (Poznań), trong thế kỷ XIX nằm trong sự chiếm đóng của Đức. Linh mục Wawrzyniak không muốn có chiến tranh vũ trang. Ông đứng ra tổ chức hoạt động kinh tế và tài chính cho người Ba Lan, ông dựng lên các đơn vị văn hóa và các trường học tự đào tạo, ông đại diện cho người Ba Lan trong Quốc hội Prusy (Đức). Nhờ các hoạt động của ông mà xã hội Ba Lan trong vùng chiếm đóng của Prusy chiến thắng trong cuộc chạy đua với Đức về lĩnh vực tổ chức và kinh tế, phá tan sự đồn đại cổ hủ vẫn cho rằng người Sloven không thể tổ chức được gì tốt đẹp và không làm ăn được gì trong kinh tế. Sau khi ông mất, người Đức đã phải công nhận Linh mục Wawrzyniak là „vị vua không vương miện của Ba Lan”.

Linh mục Marceli Godlewski (năm 1865-1945), nhà hoạt động xã hội kì cựu, người đỡ đầu cho giai cấp công nhân và người nghèo. Trước chiến tranh, ông luôn phản đối sự bành trướng của người Do Thái trong một số lĩnh vực kinh tế. Có thể nói, về chính trị, ông chống phân biệt chủng tộc đối với người Do Thái, nhưng thực ra, đây không phải kiểu chống đối gắt gao như những người khác khi họ vẫn luôn đàn áp người Do Thái. Trong thời gian Hitler chiếm đóng, khi người Đức giết hại hàng loạt người Do Thái thì Linh mục Marceli Godlewski đứng ra tổ chức giúp đỡ người Do Thái trên diện rộng, một việc làm mạo hiểm tính mạng. Ông đã cứu hàng ngàn sinh mạng con người. Người ta có kể về ông rằng, khi trẻ em Do Thái bị ném qua bức tường từ các trại cách ly người Do Thái, thì ông đỡ chúng vào lòng và giấu dưới áo thụng đen của mình. Ông khóc tức tưởi khi nghe kể về những khổ đau trong trại kín ghetto. Ông là một trong những người Ba Lan vì tôn giáo – vì Công giáo dạy bảo phải luôn yêu thương đùm bọc mọi người, đã nhiệt tình tổ chức cứu rất nhiều người Do Thái, mặc dù rất nguy hiểm vì bọn Đức có thể tuyên án tử hình. Đã có rất nhiều người Ba Lan hy sinh khi cứu trợ người Do Thái. Một nhà nghiên cứu lịch sử của Viện Tưởng niệm Quốc gia đã khẳng định không biết „có mối liên hệ nào giữa người Ba Lan và người Do Thái mà không bắt nguồn từ Mười lời khuyên răn và truyền bá về tình thương”.

Hồng y Giáo chủ Stefan Wyszyński (năm 1901-1981). Trong những thế kỷ trước, ở Ba Lan có học viện mang tên ”Interexa”. Trong trường hợp vua qua đời mà chưa có người nối ngôi, đứng đầu nhà nước sẽ là một vị vua lâm thời, trong tiếng La Tinh vị vua lâm thời được gọi là interex. Thường thì người đó chính là Hồng y Giáo chủ Ba Lan, tức là người đứng đầu trong các giám mục. Người Ba Lan nói trong thời hiện đại thì chính Hồng y Giáo chủ Stefan Wyszyński sẽ là người giữ chức vụ như vậy, còn Giáo hoàng Ba Lan Jan Paweł II gọi ông là „Vị Hồng y Giáo chủ của Ngàn năm”.

Stefan Wyszyński làm Hồng y Giáo chủ đúng vào lúc dân tộc Ba Lan rơi vào thời kì vô cùng khó khăn. Thế chiến II đã để lại trên các vùng đất Ba Lan hậu quả vô cùng kinh hoàng. Đã có hàng triệu người bị giết hại, thủ đô bị tàn phá hoàn toàn, nhiều thành phố khác cũng bị hư hỏng nặng, cả dân tộc bị mất hết hàng ngũ lãnh đạo, mất hết những người có uy tín và cả tầng lớp trí thức. Kết thúc chiến tranh nhưng lại bị Nga Xô chiếm đóng, mặc dù không còn tàn nhẫn trắng trợn và mạnh mẽ như thời Đức thuộc, nhưng đặc biệt trong thập kỷ đầu tiên sau chiến tranh, rất nhiều người bị giết hại một cách thảm hại. Một lần nữa, quân chiếm đóng lại nhằm vào những người lãnh đạo, phá huỷ dòng máu gân cốt của dân tộc, phá hại gốc rễ văn hóa của dân tộc. Trong thời gian bị đàn áp kinh khủng, vào năm 1948, Hồng y Giáo chủ August Hlond qua đời. Vị tân Hồng y Giáo chủ mới lên là một giáo chủ còn rất trẻ, mới 47 tuổi – Stefan Wyszyński. Cuộc chiến đấu với dân tộc và Nhà thờ được những kẻ lãnh đạo Cộng hòa Nhân dân Ba Lan (PRL) khởi điểm và thúc đẩy mạnh mẽ, một nhà nước hoàn toàn bị phụ thuộc vào Nga Xô. Hồng y Giáo chủ đứng đầu không chỉ trong Nhà thờ mà cho cả dân tộc Ba Lan đang bị đàn áp. Chiến lược khéo léo của Giám mục Stefan Wyszyński dựa vào nền móng thông hiểu, ở mọi nơi có thể chấp nhận thông hiểu, xác định giới hạn nhất quán để đàm phán, đồng thời tập trung và tổ chức dân tộc xung quanh Nhà thờ. Tính tôn giáo của dân tộc và tín ngưỡng đại chúng, đặc biệt là quanh lễ tổ chức kỷ niệm 1000 năm rửa tội thành lập nhà nước Ba Lan vào năm 1966, đã trở thành một lực lượng mà cộng sản không thể xoay xở và giải quyết được. Chúng bắt Hồng y Giáo chủ và giam cầm 3 năm, chúng chiếm đoạt mọi tài sản của các tổ chức xã hội và từ thiện của Nhà thờ, chúng đàn áp và muốn bẻ gãy tầng lớp giảng đạo, uy hiếp những người đi dự lễ - nhưng lại không đạt được mục đích gì. Các Nhà thờ vẫn luôn đông kín người, người Ba Lan vẫn đi cầu nguyện, sự tín nhiệm Hồng y Giáo chủ ngày càng tăng, đến khi không chỉ cộng sản Ba Lan kính nể mà ngay cả các lãnh tụ cộng sản của Liên Xô cũng phải nể vị.

Mặc dù Hồng y Giáo chủ bị buộc nằm trong hoàn cảnh khó khăn nhưng ông đã cho ra đời một chương trình quốc tế vĩ đại. Ông đã biết được trước sau thì sự xung đột ngấm sâu trong lịch sử giữa hai dân tộc Ba Lan và Đức sẽ luôn là vật trở ngại trong công cuộc xây dựng sự hòa hợp tinh thần của cả Châu Âu. Ông xác định Châu Âu phải làm một sứ mệnh cao cả. Vào năm 1978, tại Nhà thờ lớn Koel, ông nói Châu Âu cần phải trở thành một Betlejem mới cho toàn thế giới. 13 năm trước đó khi chuẩn bị cho sứ mệnh này, ông đã quyết định làm một cử chỉ dũng cảm, vượt qua khỏi tầm nhìn thời đó với cả của chính quyền Ba Lan cộng sản cũng như của cả phần lớn các nhà quan sát khác. Khi kết thúc Đại hội Vaticăng II, trước khi kỷ niệm 1000 năm thành lập nhà nước Ba Lan, các giám mục Ba Lan thay mặt toàn dân tộc viết một lá thư chung gửi đến các giám mục Đức, trong đó có những câu nổi tiếng: „chúng tôi tha thứ và cũng xin được tha thứ”. Thật đáng ngạc nhiên khi một dân tộc đã đón nhận rất nhiều sự đàn áp đau đớn từ những láng giềng hùng mạnh khó bì và cũng rất tàn nhẫn đó, lại qua người interex của mình để lần đầu tiên đứng ra giang tay cho tha tội và tự mình cũng xin xá tội. Nhiều năm sau, sức mạnh cử chỉ này của vị Hồng y Giáo chủ Stefan Wyszyński được thấy rõ rệt khi Châu Âu trở thành một cơ thể đồng nhất, Ba Lan và Đức cùng nhau mật thiết hợp tác trong Liên minh Châu Âu, những sự chia rẽ nhỏ nhen, dù vẫn còn tồn tại, nhưng không thể làm ảnh hưởng đến quan hệ mật thiết đó. Nếu không có sự hòa hợp của hai dân tộc Ba Lan và Đức thì Châu Âu không thể mở rộng ra vùng phía Đông, đây là điều kiện cần thiết để có được sự lâu bền trong gìn giữ hòa bình và phát triển trên toàn thế giới.

Linh mục Jerzy Popiełuszko (năm 1947-1984). Ông bị cán sự của Lực lượng An ninh cộng sản giết hại một cách dã man chỉ bởi ông bền bỉ truyền dạy rằng cần yêu thương, danh dự và tự do trong bóng tối của thiết quân luật do độc tài cộng sản áp dụng để chống đối phong trào Đòan Kết, do tướng Jaruzelski lãnh đạo. Cha thường tập trung rất đông người quanh mình, người ta tìm thấy được trong các bài giảng của Cha toàn bộ sự thật và niềm hy vọng. Linh mục Jerzy Popiełuszko và câu truyền đạo được truyền cho nhau: „Hãy lấy thiện chiến thắng điều ác”. Bài giảng của linh mục Jerzy Popiełuszko như vậy, không có căm ghét, không có nguyện vọng thù hằn, chỉ đầy tình yêu thương, nhưng linh mục cũng luôn quyết liệt yêu cầu quyền con người cho người dân và tự do cho dân tộc.

Linh mục Jerzy Popiełuszko không phải là cha cố duy nhất đã tử vì đạo khi một mực trung thành với giáo hội và dân tộc. Tên tuổi ông trong xã hội hiện đại có thể nói là nổi tiếng nhất trong những vị linh mục tử vì đạo của Ba Lan, trở thành biểu tượng cho những linh mục khác trong lịch sử Ba Lan đã hy sinh cuộc đời vì tín ngưỡng và trật tự đạo đức. Đầu tiên là Cha đỡ đầu của Ba Lan, mặc dù là linh mục người Séc, Wojciech Phong thánh (khoảng năm 956-997), đã bị quân Prusy (Đức) giết hại khi ông đến truyền giáo cho họ bằng Kinh thánh. Sau đó, người thứ hai là Stanisław Phong thánh – đây là vị Thánh được Giáo Hoàng Jan Paweł II rất hâm mộ, ông là Giám mục Kraków, đã bị chính Nhà vua của mình giết hại vì thường phê bình vị vua này quá dã man, và không có đức giáo. Trong mọi cuộc chiến tranh hay các cuộc khởi nghĩa dân tộc, đã có hàng trăm linh mục anh hùng, nổi tiếng cũng như vô danh, hiến dâng cuộc đời mình, hy sinh anh dũng như những người lính. Các linh mục Ba Lan bị bọn mọi rợ đàn áp giết hại trong các trại tập trung (như linh mục Maksymilian Maria Kolbe Phong thánh), trong các trại của Stalin, hay bị những kẻ thù giai cấp bí mật giết hại như linh mục Jerzy Popiełuszko.

Mặc dù vậy Nhà thờ Ba Lan vẫn không bao giờ trở thành Nhà thờ của hận thù và vũ lực, vẫn nguyên hình mẫu của mình, vẫn theo đuổi trào lưu chính và chủ yếu nhất của mình – Nhà thờ đầy tình yêu, tìm mọi cách hòa hợp, cởi mở đối thoại đàm phán với những người theo các tôn giáo khác, kể cả những người lương giáo, nhưng cũng không bao giờ đi sai lệch truyền thuyết của mình hay từ bỏ mọi lý lẽ tranh luận. Trải qua hàng thế kỷ, Công giáo đã tấu tạo cho nền văn hóa Ba Lan – nền Cộng hòa đầu tiên, một nhà nước mà trải qua hàng thế kỷ tính từ thời Mieszko I, cho đến vị vua Ba Lan cuối cùng Stanisław August và cho đến tận khi bị các quốc gia khác chia rẽ và chiếm đóng như Nga, Prusy (Đức) và Áo vào cuối thế kỷ XVIII, trở thành một sản phẩm đặc biệt trên bản đồ Châu Âu thời đó. Tôn giáo và văn hóa của Ba Lan rất thoáng mở, luôn đối xử thiện chí với người nước ngoài, khoan dung độ lượng với tôn giáo khác. Những đặc tính đó đã thu hút rất nhiều người nước ngoài tới sinh sống trên lãnh thổ Ba Lan từ hàng thế kỷ nay, đôi khi có những người đến tị nạn từ những vùng xa xôi, nơi danh dự và quyền con người không được chấp thuận. Một phần trong số những người di cư là người theo tôn giáo khác như người Do Thái, người Ácmêni, người Nga, người Thổ, người Mormon, ngoài ra còn có những nhóm cách ly từ đạo tin lành, mặt khác cũng không ít những người nông dân chạy trốn sang Ba Lan vì không thể chịu đựng sự nô lệ và bóc lột đang hoành hành trên đất nước họ. Kể cả người thành thị, quý tộc muốn sang Ba Lan bởi thỏa chí tò mò về nền văn hóa ở đây. Những người này thường hòa nhập Ba Lan hóa rất nhanh, do cảm mến một nền văn hóa quyến rũ.

Bài viết được trích dẫn từ cẩm nang "Ba Lan đặc tính", do Hiệp Hội Tự Do Ngôn Luận, cơ quan đỡ đầu của Bến Việt, thực hiện trong khuôn khổ chương trình „Vác-sa-va Mùa Thu Nhân Loại”, có tài trợ từ Quỹ Liên minh Châu Âu và Ngân sách Nhà nước nhằm hỗ trợ quá trình Hội nhập Công dân các nước thứ Ba.

(còn tiếp)

© Bến Việt – www.benviet.org


O ile nie zaznaczono inaczej, treść tej strony objęta jest licencją Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 License