Ba Lan công giáo nghĩa là gì? (3/3)

SWS - Bến Việt (15.03.2010) Xã hội - *Truyền thống khoan dung tôn giáo, bắt đầu được tính từ năm 1356 khi vua Kazimierz Wielki ban hành sắc chỉ cho phép người Ácmêni ở Ba Lan được tự do tín ngưỡng, phong tục và hành chính. Tại thời điểm đó, so với Châu Âu, là điều rất đặc biệt.**

Đỉnh cao thế kỷ vàng của sự khoan dung ở Ba Lan là Hiệp ước Liên bang Vác-sa-va - tài liệu giá trị pháp lý bảo đảm khoan dung tôn giáo. Tất cả những vị vua nối ngôi đều phải tuyên thệ công nhận Hiệp ước này. Hiệp ước Liên bang được phê duyệt qua Quốc hội được thành lập ra trước khi tuyển chọn Nhà vua, vào năm 1573, tức là vào một năm trước khi tại Paris và những vùng khác trong nước Pháp có giết hại dã man bao người theo đạo tin lành, còn được gọi là sự kiện đêm Bartomiej Phong thánh. Lúc đó đã có 22 ngàn người mất mạng, họ bị giết hại bởi quân đội Thiên chúa giáo quý tộc, chỉ bởi công nhận tôn giáo khác. Nền Cộng hòa Ba Lan khi đó thường được gọi là nơi trú ngụ an toàn cho những người khác biệt, còn các nhà sử gia hiện đại thì gọi nền Cộng hòa Ba Lan là đất nước thiếu vắng giàn thiêu người.

Ba Lan luôn liên minh với các dân tộc khác. Liên minh là thành quả của tinh thần các bên tự nguyện cam kết, chứ không do dùng vũ lực hay chiến sự. Bằng cách này, một loạt các liên minh Ba Lan-Litva có hiệu lực, như Liên minh ký ở Krew (1385), Liên minh Lublin (1569), sau đó Cộng hòa Hai dân tộc được thành lập - nhà nước của nhiều dân tộc, giống như Liên minh Châu Âu hiện nay – một tập thể thu hút tất cả tự nguyện ký kết và mang lại nhiều lợi ích cho các bên.

Toàn bộ lịch sử văn hóa Ba Lan vĩ đại và toàn bộ nền Công giáo Ba Lan đều được Giáo hoàng người Ba Lan Jan Paweł II ghi nhận trong các thuyết giảng của mình. Người đã dạy cần phải yêu thương chính dân tộc mình, dân tộc mà Người gọi là cộng đồng có thể không phải là duy nhất, nhưng là quan trọng nhất trong lịch sử tinh thần của con người. Đồng thời, qua phận sự tôn giáo hàng ngày của mình, Người đã chứng minh được rằng có thể vừa yêu thương dân tộc mình, yêu thương tất cả mọi người trên thế gian và tất cả các dân tộc khác. Người ta coi Jan Paweł II là Giáo Hoàng mang tư duy bảo thủ vì tuân thủ tất cả những gì quan trọng trong vấn đề tín ngưỡng và truyền thống Công giáo, bảo vệ nó khi thỉnh thoảng có xuất hiện những trào lưu hiện đại hoài nghi các giá trị hay không chịu phân biệt giữa cái tốt và xấu. Giáo Hoàng đồng thời cũng luôn phá bỏ hàng rào ngăn cách để cảm thông và cởi mở với những tôn giáo khác, không chỉ Công giáo. Khi tiếp tục thực hiện chương trình tôn giáo vĩ mô của Hồng y Giáo chủ Stefan Wyszyński, Người đã ủng hộ các hoạt động với mục đích hòa hợp Châu Âu và thực hiện chương trình „Betlejem cho toàn thế giới”, Người đã mang đến tất cả mọi miền thế giới những lời nói của Kinh thánh, những lời nói về tình thương yêu thực sự, về nền hòa bình, sự khoan dung và quan tâm sâu sắc tới quyền con người, về sự phát triển các dân tộc. Jan Paweł II luôn kêu gọi các dân tộc giàu có phải luôn ủng hộ các dân tộc nghèo khó, cần giúp đỡ để phát triển, cần quan tâm đến những người đang trong hoàn cảnh khó khăn, trong đó phải quan tâm đến người nhập cư, tị nạn.

Có lẽ không thể có một Giáo hoàng Jan Paweł II như vậy, nếu không có lịch sử ngàn năm của Giáo Hội Ba Lan, lịch sử của những con người và các hành xử phi thường, nêu bật đặc tính sâu xa, cơ bản nhất của Công giáo. Tất nhiên, tại Ba Lan cũng như nhiều nơi khác, không thiếu những kẻ đê tiện có mặt tại những nơi cộng đồng phong phú khác nhau. Một trong những nguyên tắc chủ yếu nhất của Công giáo là công nhận yếu điểm, xu hướng dễ sa lầy tội ác của con người, nhưng đồng thời khoan dung độ lượng và hy vọng vào tiến bộ. Giáo hội Ba Lan đã trải qua hàng thế kỷ gắn liền với dân tộc, với lịch sử dân tộc, trong những thời điểm tốt đẹp và trước hết là trong cả những lúc khó khăn. Nhưng dù có quan tâm mật thiết với dân tộc mình, Giáo hội vẫn không cách ly với các dân tộc khác. Ngược lại, lực lượng Giáo hội luôn gắn liền mật thiết với dân tộc, cho phép dân tộc cởi mở và nhìn nhận những người khác biệt, vì họ luôn cần có quan tâm và tình thương. Đặc tính của Công giáo, quan trọng nhất trong thuyết học Chúa Giêsu Cristốp là tình thương. Tình thương thậm chí còn quan trọng hơn cả tôn giáo. Do vậy, ở bất kì đâu có nhân danh tôn giáo để đàn áp hay ép buộc người có tư tưởng khác, bắt người tôn giáo hay dân tộc khác tuân thủ tôn giáo „ưu việt”, bắt những người di cư từ vùng đất khác đi tìm thế giới tự do không có nghèo nàn và vũ lực phải tuân thủ quy luật tôn giáo mới, tức là vi phạm, phản bội lý tưởng Công giáo. Có những người và vài đơn vị Nhà thờ Thiên chúa khác đã phản bội lại tư tưởng đó, ý thức được điều xấu xa đang làm, nhưng lại thường cho đó là phục vụ cho Chúa Giêsu Cristốp và cho Nhà thờ của Chúa. Bên cạnh đó, luôn có những vị được phong thánh, những vĩ nhân của Nhà thờ, những người tuyên thệ tìm về cội nguồn và thông hiểu khiến cho Kinh thánh của Chúa Giêsu Cristốp luôn sống động, mới mẻ, lấy nền tảng tình thương yêu mọi con người. Người Ba Lan có quyền tự hào, vì lịch sử Công giáo của họ luôn được chuẩn mực tích cực chiếm ưu thế, dù không phải luôn luôn là chuẩn mực duy nhất. Chính các chuẩn mực tích cực và vị trí ưu thế của những chuẩn mực này trong đời sống Ba Lan đã định hướng bản tính Công Giáo Ba Lan, là kim chỉ nam suốt mọi thời đại, qua nhiều thế kỉ, trở thành nền tảng văn hóa Ba Lan.

Bài viết được trích dẫn từ cẩm nang "Ba Lan đặc tính", do Hiệp Hội Tự Do Ngôn Luận, cơ quan đỡ đầu của Bến Việt, thực hiện trong khuôn khổ chương trình „Vác-sa-va Mùa Thu Nhân Loại”, có tài trợ từ Quỹ Liên minh Châu Âu và Ngân sách Nhà nước nhằm hỗ trợ quá trình Hội nhập Công dân các nước thứ Ba.

© Bến Việt – www.benviet.org


O ile nie zaznaczono inaczej, treść tej strony objęta jest licencją Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 License