Thế nào là dân chủ (2/2)

SWS - Bến Việt (10.03.2010) Xã hội - Luật pháp đặt ra mà không tôn trọng quyền tự nhiên thì coi như không có giá trị ngay từ lúc mới hình thành, còn những cán sự nhà nước muốn áp dụng luật mâu thuẫn với quyền tự nhiên ắt phải chịu trừng phạt.

Toàn bộ hệ thống lập pháp và lãnh đạo chính quyền công cộng được coi là khá phức tạp. Nhưng những phức tạp đó là điều không tránh khỏi bởi một mặt, chúng ta muốn có hệ thống đại diện cho đa số trong xã hội, đồng thời cũng muốn hệ thống đó bảo đảm quyền lợi cho thiểu số. Bởi, cần nhớ rằng: trọng tâm của trật tự dân chủ là quyền tự do, danh dự và an toàn cho mỗi con người riêng lẻ. Giới hạn hoạt động hành chính do pháp luật xác định, trong đó, Hiến pháp xác định khuôn khổ cũng như nền tảng luật pháp. Ngoài đó, khuôn khổ pháp lý còn là các hiệp ước đã được nhà nước phê duyệt. Nhưng trên hết, còn có một mức phê chuẩn nữa giới hạn tính độc lập của nhà nước – đó là quyền tự nhiên.

Trong mỗi con người, bao giờ cũng tồn tại khả năng tự nhiên giúp phân biệt tốt - xấu. Khả năng này được biết trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, không phụ thuộc vào một truyền thống hay là một văn hóa cụ thể nào, mặc dù, không chỉ một lần, đã có bao chế độ trị vì muốn dập tắt hoặc hạ bệ quyền tự nhiên để gói gọn cuộc sống vào một lý tưởng nào đó. Luật pháp đặt ra mà không tôn trọng quyền tự nhiên thì coi như không có giá trị ngay từ lúc mới hình thành, còn những cán sự nhà nước muốn áp dụng luật mâu thuẫn với quyền tự nhiên ắt phải chịu trừng phạt. Trong thực tế, nguyên tắc trừng phạt này được nhân loại áp dụng lần đầu trong phiên tòa Norymberg xét xử những tội phạm diệt chủng Hitler. Lúc đó, đứng trước vành móng ngựa quốc tế là những người đã gây dựng lên một nhà nước dân tộc-xã hội. Những kẻ bị kết tội về những tội mà trước đó chưa từng được viết thành bộ luật. Những tội phạm này bị kết tội diệt chủng, các sỹ quan đứng đầu quân đội chịu trách nhiệm thi hành cuộc chiến vô tính người và ngay cả những người lãnh đạo kinh tế và bộ máy hành chính của nước Đức Hitler cũng đã bị kết tội dựng lên một nhà nước mà ngay khi khởi đầu đã mang tiêu chí phục vụ vi phạm nhân quyền. Những tội phạm kinh khủng của Phát-xít Đức, trước đó chưa từng được viết trong các bộ luật dù rõ ràng đó là tội phạm.

Có vậy là bởi vào thế kỷ XX hệ thống độc tài mới phát sinh trước tiên tại Nga Xô, sau đó Đức quốc và một vài nước phát-xít khác – thể chế mang những tính chất hoàn toàn mới trong lịch sử nhân loại. Những tính chất mới đó là sự khinh rẻ con người đồng thời kèm theo kĩ năng mô tả thế giới dựa trên thuyết chia rẽ đối chấp. Lúc thì chia rẽ theo tầng lớp xã hội, lúc thì lại dựa vào chủng tộc, màu da. Tất cả dựng nên một nhà nước mà nguyên tắc tồn tại là tuyệt đối phụng sự một lý tưởng do vài nhà lý thuyết xây dựng nên để quay lại phục vụ cho chính lý tưởng đó. Một nhà nước như vậy chỉ phục vụ cho chính bộ máy mình, bằng chà đạp quyền con người, thậm chí còn ép buộc mọi người phải răm rắp chấp hành, răm rắp tuân thủ, trong mọi lĩnh vực cuộc sống. Bởi vậy, chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phát-xít được chúng ta xác định là chủ nghĩa độc tài. Chính quyền trong một nhà nước như vậy mang tính tự biện, ép người khác vâng lời bằng bạo lực đồng thời can thiệp vào ý thức của con người bằng tuyên truyền nhảm nhí, kiểm soát mọi nội dung bị coi là không có lợi. Trong một nhà nước như vậy, các cơ quan truyền thông và báo chí bị chính quyền kiểm tra gắt gao, những gì tất yếu thì bị coi là không thể chấp nhận được. Có nghĩa rằng nhà nước không chấp nhận sự tồn tại của các cơ quan thông tin độc lập một khi những cơ quan này đặt hoài nghi về các giải pháp do nhà nước đưa ra. Tại những quốc gia như vậy, chính quyền không được dân bầu chọn mà chỉ do một đảng độc tài tự cử định. Tuy vậy, điều này không có nghĩa rằng các hệ thống đơn đảng không mang trong mình một số khuôn khổ thường có trong thực tế thông thường. Bởi vì thực tế là chỉ có một đảng kiểm tra tất cả mọi báo chí, thì tại sao họ không chỉ xuất bản một tờ báo cho tất cả mọi người? Bởi vì, họ giả vờ cho phép tồn tại nhiều loại báo – nhưng nội dung tất cả các tờ báo thì giống như nhau, chỉ có cách viết là khác. Ý nghĩa những đợt bầu cử giả dối là gì khi trong những cuộc bấu cử đó những cử tri duyệt binh đến phòng bỏ phiếu chỉ để bầu ra những khuôn mặt trong cùng một danh sách mà trước đó đảng đã chuẩn bị sẵn? Nếu chẳng được lựa chọn thì không thể gọi là bầu cử. Nhưng điều này vẫn xảy ra. Tất cả do bản chất của con người, muốn tìm mọi cách để tìm tự do và cứu rỗi danh dự mình. Vậy nên độc tài vừa ép buộc người dân, vừa mở ra khả năng cho con người tự lừa dối mình, rằng người dân vẫn còn đôi chút tự do để lùi lại khoảnh khắc cuối cùng cũng sẽ đến – khi người dân tự vùng dậy và chế độ độc tài phải sụp đổ. Khoảnh khắc này không ắt đến, bởi được thúc đẩy từ bản chất con người.

Dân chủ là hệ thống xây dựng chính quyền công cộng và hệ thống lập pháp gần gũi với bản chất con người nhất. Trong tất cả các hệ thống đang hiện hành thì đó cũng là hệ thống hoàn hảo nhất có khả năng bảo vệ tự do và quyền lợi của mỗi con người. Châu Âu và văn hóa Châu Âu đã phải vật lộn khôn lường để tiến tới bảo đảm cho các giá trị cơ bản được tồn tại vững vàng. Như chúng tôi đã viết trong phần khởi đầu, dân chủ được hình thành từ hơn 2500 năm trước. Tuy vậy, không lâu sau đó, các quốc gia bắt đầu quy tụ quanh những nhà độc tài, bạo chúa để quốc gia dần trở thành tài sản tư hữu của bạo quyền. Tuy vậy, điều đó không có nghĩa người dân hoàn toàn bị mất tự do, những người dân không đấu tranh chống lại trật tự chính trị thì vẫn được yên thân và cứ việc làm ăn bình thường cho cuộc sống của riêng mình, nhưng chúng ta cũng không quên rằng nếu chưa có tự do hoàn toàn thì coi như chưa có tự do. Trải qua hàng trăm năm, từ thời cổ đại xa xưa cho đến thời hậu trung cận, người Châu Âu vẫn cho rằng vua chúa thống trị là lẽ tất nhiên, cùng với sự phục tùng theo đẳng cấp người dân.

Hình thức chọn đại diện bắt đầu nảy sinh thời hậu trung cổ, đầu tiên ở Ba Lan, sau đó là Anh và một vài nước khác. Thế nhưng, ít nhất là cho đến tận thế kỷ XVIII, đại đa số các quốc gia hình thành và tồn tại trên nguyên tắc tuyệt đối phò vua. Hiến pháp hiện đại đầu tiên tại Châu Âu được thông qua tại quốc hội Ba Lan vào năm 1791, để rồi hệ quả là Ba Lan bị các nước láng giềng Nga, Đức và Áo tấn công, sau đó bị mất nền độc lập trên 100 năm. Những chế độ độc tài của Lenin và Hitler mới thành lập vào thế kỷ XX lại giáng cú đòn tiếp theo vào nền dân chủ đại chúng dựa trên cơ sở dân chủ và tôn trọng quyền con người mới nảy sinh. Tuy vậy, xu hướng tự do của nhân loại dường như không bị tác động mà ngược lại, tiếp tục phát triển dù còn nhiều hạn chế tồn tại ở nhiều quốc gia. Thông tin qua lại khiến thúc đẩy đồng tâm và sau đó là bước đường nhắm đến tự do và danh dự con người. Đến thế kỷ XX, lần đầu tiên đại đa số người dân mới coi „tôn trọng nhân quyền” là điều cơ bản cho mọi hệ thống pháp lý mà mình công nhận. Đây là hệ quả do cú sốc Thế Chiến II gây ra. Sau thảm cảnh Thế Chiến II, nhân loại ý thức được rằng phải tạo ra một hệ thống có khả năng đảm bảo an bình cho mọi tập thể. Do vậy, Liên Hợp Quốc được thành lập, trong đó, các thành viên có trách nhiệm chấp hành mọi quyết định của Hiệp Ước Nhân Quyền. Chúng ta biết có một vài quốc gia thuộc Liên Hiệp Quốc vẫn cố tình không chịu chấp hành Hiệp Ước, nhưng cũng cần ý thức được rằng, đó là vi phạm quyền lợi vốn đã được các quốc gia thành viên cam đoan ký kết. Các thể chế độc tài còn tồn tại cho tới nay vẫn tuyên truyền rằng nhân quyền không thể được phổ cập ở mọi nền văn hóa. Nếu vậy, cần đặt câu hỏi những quốc gia độc tài như vậy ghi danh vào cơ cấu của Liên Hợp Quốc để làm gì? Nếu độc tài cho là quyền con người không cần phải chấp hành trong lãnh thổ của họ, thì họ có thể không nên tham gia làm thành viên của những tổ chức vốn nền tảng là quyền con người.

Do vậy, tuy hình thức pháp quyền dân chủ là điều kiện không thể tách rời, dân chủ không chỉ là hệ thống hình thức hành chính và chính trị. Dân chủ là hệ thống đòi hỏi toàn xã hội tích cực tham gia và đồng thời hướng tạo người dân ít nhất phải khoan dung với những ai khác mình.

Dân chủ cũng không phải là hệ thống chỉ dành riêng cho công dân của quốc gia dân chủ! Xã hội hiện đại phải mở cửa cho cả những người có mặt trên lãnh thổ đất nước dù không phải là công dân quốc gia đó. Luật pháp Ba Lan cho phép tham gia hoạt động xã hội, chính trị dưới nhiều hình thức khác nhau, không phụ thuộc vào quốc tịch của người dân. Nếu không được vậy thì đó là vi phạm quyền tự do cơ bản – điều không thể chấp nhận trong thể chế dân chủ. Khái niệm quốc tịch liên quan tới việc cùng quyết định cho chính sách quốc gia, cần phải là công dân của quốc gia để ứng cử hay bỏ phiếu. Điều này hoàn toàn hợp lý bởi mỗi một công dân đều trung thành với một quốc gia cụ thể, do vậy khó chấp nhận được việc một người đại diện cho xã hội Ba Lan lại có trách nhiệm trung thành cho một quốc gia khác. Điều đó không có nghĩa là người nước ngoài không có quyền hưởng mọi quyền lợi con người. Xã hội dân chủ tôn trọng quyền tự do, công nhận quyền phát biểu chính kiến của mọi người, ai cũng có quyền tự quyết đoán hành động và quyền đứng lên bảo vệ quyền lợi của mình. Không phụ thuộc vào địa vị xã hội, người nước ngoài luôn có quyền đấu tranh đòi quyền lợi trước mọi tòa án Ba Lan mà không bị cản trở. Người nước ngoài cũng có quyền nộp đơn khiếu kiện cơ quan nhà nước Ba Lan. Hiện không có và không thể xảy ra việc một quốc gia dân chủ áp dụng pháp luật riêng cho công dân nước mình, luật riêng cho công dân nước khác.

Nhưng cũng cần phải biết rằng không phải mang quốc tịch nước khác là được vi phạm luật Ba Lan. Là công dân nước khác không có nghĩa là có quyền ăn trộm, cướp giật ở Ba Lan mà hơn nữa, còn phải chấp hành luật pháp Ba Lan về thuế, tuân thủ luật dân sự của Ba Lan. Khi là công dân của quốc gia cộng sản, không có nghĩa là được quyền tuyên truyền lý thuyết cộng sản tại Ba Lan. Khi đã tới quốc gia khác, cần thích ứng cả về pháp luật của quốc gia đó. Điều này cũng có nghĩa là đòi hỏi người di cư phải từ bỏ những thói quen và nguyên tắc sẵn có ở quốc gia xuất thân. Ở Ba Lan, mọi hình thức bạo lực đều bị cấm đoán, kể cả bạo lực với thành viên gia đình. Những ai có hành vi bạo lực với người thân hoặc với ai đó đều có thể bị tuyên án dù những hành vi bạo lực bị lên án ở Ba Lan có thể được coi là vô sự tại nơi người nước ngoài xuất thân. Tóm lại: ở Ba Lan không được vi phạm pháp luật, ngoài ra được sinh sống hoàn toàn tự do, điều vốn được đảm bảo trong quốc gia dân chủ.

Bài viết được trích dẫn từ cẩm nang "Ba Lan đặc tính", do Hiệp Hội Tự Do Ngôn Luận, cơ quan đỡ đầu của Bến Việt, thực hiện trong khuôn khổ chương trình „Vác-sa-va Mùa Thu Nhân Loại”, có tài trợ từ Quỹ Liên minh Châu Âu và Ngân sách Nhà nước nhằm hỗ trợ quá trình Hội nhập Công dân các nước thứ Ba.


© Bến Việt – www.benviet.org

O ile nie zaznaczono inaczej, treść tej strony objęta jest licencją Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 License